Đánh giá khả năng sinh trưởng và phòng trị bệnh trên đàn dê lai tại trại chăn nuôi

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp đánh giá khả năng sinh trưởng và phòng trị bệnh trên đàn dê lai tại trại chăn, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa khoa học

1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

1.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.3. Nguồn gốc và vị trí phân loại của dê

2.3.1. Nguồn gốc của dê

2.3.2. Vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật

2.4. Đặc điểm sinh vật học của dê

2.4.1. Tập tính theo bầy đàn của dê

2.4.2. Về ngoại hình

2.4.3. Tập tính ăn uống

2.4.4. Về tính nết

2.4.5. Tập tính ngủ nghỉ

2.4.6. Tập tính sinh dục

2.5. Đặc điểm về sinh trưởng và phát triển

2.6. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của dê

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm tiến hành

3.2. Nội dung thực hiện

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.4. Bố trí thí nghiệm

3.5. Các chỉ tiêu theo dõi

3.6. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

3.7. Phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn dê

3.8. Phương pháp tính toán các chỉ tiêu

3.9. Các chỉ tiêu về sinh trưởng

3.10. Tỷ lệ mắc bệnh và khỏi bệnh

3.11. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn dê

4.1.1. Sinh trưởng tích lũy

4.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối

4.1.3. Sinh trưởng tương đối

4.2. Kết quả theo dõi về thức ăn

4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn dê

4.3.1. Công tác vệ sinh chuồng trại

4.3.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho dê

4.4. Kết quả điều trị các bệnh thường gặp trên đàn dê

4.4.1. Một số triệu chứng lâm sàng điển hình của các bệnh trên đàn dê trong thời gian thực tập

4.4.2. Kết quả điều trị cho đàn dê mắc bệnh trong quá trình thực tập

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đánh giá dê lai

Đánh giá khả năng sinh trưởng của dê lai tại trại chăn nuôi là một trong những mục tiêu chính của nghiên cứu. Dê lai, đặc biệt là giống Cỏ x Bách Thảo, đã cho thấy khả năng sinh trưởng vượt trội so với các giống dê địa phương. Theo số liệu thu thập, khối lượng của dê lai tăng nhanh trong giai đoạn đầu đời, với tỷ lệ sinh trưởng tuyệt đối đạt từ 90 đến 120 gram/con/ngày. Điều này cho thấy khả năng sinh trưởng của dê lai có thể được cải thiện thông qua các biện pháp chăm sóc và dinh dưỡng hợp lý. Việc áp dụng các phương pháp chăn nuôi hiện đại và quy trình dinh dưỡng khoa học sẽ giúp tối ưu hóa sự phát triển của đàn dê. Kết quả này không chỉ có ý nghĩa trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi mà còn góp phần vào việc cải thiện thu nhập cho người chăn nuôi.

1.1. Khả năng sinh trưởng của dê

Khả năng sinh trưởng của phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, chế độ dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc. Dê lai cho thấy sự phát triển vượt bậc trong các chỉ tiêu sinh trưởng, với khối lượng trung bình đạt 24 kg ở độ tuổi 12 tháng. Sự tăng trưởng này không chỉ phản ánh sức khỏe của đàn dê mà còn cho thấy hiệu quả của các phương pháp chăn nuôi hiện đại. Việc theo dõi và đánh giá thường xuyên sẽ giúp người chăn nuôi có những điều chỉnh kịp thời trong quy trình chăm sóc, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm từ dê.

II. Phòng trị bệnh cho dê

Phòng và trị bệnh cho là một phần quan trọng trong quy trình chăn nuôi. Các bệnh thường gặp ở dê như viêm phổi, tiêu chảy và bệnh ký sinh trùng có thể gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Việc áp dụng quy trình phòng bệnh hiệu quả, bao gồm tiêm phòng vắc xin và thực hiện vệ sinh chuồng trại, là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở đàn dê được chăm sóc đúng cách giảm đáng kể. Điều này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của đàn dê mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Các biện pháp phòng bệnh cần được thực hiện thường xuyên và đồng bộ để đảm bảo sức khỏe cho đàn dê.

2.1. Các bệnh thường gặp ở dê

Các bệnh thường gặp ở bao gồm bệnh viêm phổi, tiêu chảy và bệnh ký sinh trùng. Những bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của dê mà còn làm giảm năng suất chăn nuôi. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh như tiêm phòng vắc xin và thực hiện vệ sinh chuồng trại có thể giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh. Điều này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của đàn dê mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.

III. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và phòng trị bệnh cho dê lai tại trại chăn nuôi có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành chăn nuôi. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin khoa học cần thiết để xây dựng các biện pháp cải tạo và bảo tồn giống dê. Đồng thời, nghiên cứu cũng là cơ sở để xây dựng quy trình phòng trị bệnh hiệu quả cho đàn dê. Những thông tin này sẽ giúp người chăn nuôi áp dụng các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý, từ đó thúc đẩy ngành chăn nuôi dê phát triển bền vững.

3.1. Tác động đến người chăn nuôi

Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị khoa học mà còn có tác động thực tiễn lớn đến người chăn nuôi. Việc áp dụng các biện pháp chăm sóc và phòng trị bệnh hiệu quả sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm từ dê. Điều này không chỉ cải thiện thu nhập cho người chăn nuôi mà còn góp phần vào việc phát triển kinh tế địa phương. Nghiên cứu cũng khuyến khích người chăn nuôi áp dụng các phương pháp chăn nuôi hiện đại, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất trong ngành chăn nuôi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của quá trình tiêu hoá hoá học. Đối với loài nhai lại lượng nước bọt nhiều và độ kiềm khá cao (pH = 8,1) có tác dụng đảm bảo độ ẩm và duy trì độ pH thích hợp trong dạ cỏ, tạo thuận lợi cho vi sinh vật dạ cỏ hoạt động. Nước bọt chứa nhiều vitamin C cần cho sự phát triển vi sinh vật dạ cỏ. Nước bọt chứa urê xuống dạ cỏ được vi sinh vật sử dụng và tạo thành protein vi sinh vật.

Tiêu hoá ở dạ cỏ: Dạ cỏ đựơc coi như "một thùng men lớn". Tiêu hoá ở dạ cỏ chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình tiêu hoá ở gia súc nhai lại: 50% vật chất khô của khẩu phần ăn được tiêu hóa ở dạ cỏ. Trong dạ cỏ các chất hữu cơ của khẩu phần ăn được biến đổi mà không có sự tham gia của các enzyme tiêu hoá. Cellulose và các chất khác của thức ăn được phân giải là nhờ các enzyme của vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ cỏ.

Dạ cỏ có môi trường gần như trung tính (pH = 6,5 – 7,4) tương đối ổn định nhờ tác dụng trung hoà axit sinh ra do quá trình lên men của nước bọt. Các muối phot phat và bicacbonat đều có tác dụng đệm. Luan van 12 Nhiệt độ trong dạ cỏ 38 – 41oC, độ ẩm 80 - 90%. Dạ cỏ có môi trường yếm khí, nồng độ O2 nhỏ hơn 1%.

Sự nhu động của dạ cỏ yếu nên thức ăn dừng lại lâu trong dạ cỏ. Với các điều kiện trên thì dạ cỏ là một môi trường thuận lợi cho khu hệ vi sinh vật sinh sản phát triển. Sự tiêu hoá vi sinh vật các chất dinh dưỡng trong dạ cỏ. Khu hệ VSV trong dạ cỏ có số lượng rất lớn, trong 1g chất chứa dạ cỏ có tới 1,5 – 2,0 x 10¹¹ vi sinh vật.

Tiêu hoá cellulose và hemicellulose: Cellulose và hemicellulose là thành phần chủ yếu trong thức ăn của gia súc nhai lại. Tỷ lệ của nó trong thức ăn thực vật chiếm 40 - 50%. Trong dịch tiêu hóa không có enzyme tiêu hoá cellulose, nhưng nó vẫn được phân giải dưới tác dụng của vi khuẩn phân giải cellulose. Vi khuẩn có thể phân giải được 80% cellulose ăn vào dạ cỏ.

Tiêu hoá bột đường: Tinh bột được vi khuẩn và protozoa phân giải. Protozoa tiêu hoá tinh bột lấy từ thức ăn vào, vi khuẩn tác dụng lên bề mặt tinh bột. Tiêu hoá protein, nitơ phi protein và sự tổng hợp protein trong dạ cỏ: Trong dạ cỏ loài nhai lại, dưới tác dụng của enzyme phân giải protein của vi sinh vật, protein của thực vật sẽ được phân giải đến peptid, aminoacid, sau đó đến amoniac. Sản phẩm tạo thành do phân giải protein sẽ được vi sinh vật sử dụng để tổng hợp thành protein của bản thân chúng.

Vi sinh vật dạ cỏ không những có khả năng sử dụng protein mà còn có thể sử dụng cả nitơ phi protein của thức ăn, phổ biến nhất là urê. Trong dạ cỏ urê được phân giải do enzyme ureaza của vi sinh vật tiết ra để tạo ra amoniac và khí CO2. Từ amoniac và sản phẩm phân giải glucid, vi sinh vật sẽ tổng hợp nên protein bản thân chúng. Protein này vào dạ múi khế và ruột sẽ được cơ thể loài nhai lại tiêu hoá, hấp thu và sử dụng.

Luan van 13 Tổng hợp vitamin: Trong quá trình hoạt động sống, vi sinh vật dạ cỏ còn tổng hợp được vitamin. Trong dạ cỏ có sự hình thành vitamin nhóm B: riboflavin, thiamin, acid folic, acid nicotinic, biotin, piridoxin và vitamin B12. Vi sinh vật dạ cỏ còn tổng hợp được cả vitamin K. Cho nên đối với động vật nhai lại trưởng thành, nhu cầu các vitamin trong khẩu phần ăn không đáng kể.

Nhưng trong thời kỳ bú sữa vì dạ cỏ chưa hoạt động nên dê rất cần các vitamin này. Sự hình thành thể khí trong dạ cỏ và sự ợ hơi: Trong quá trình hoạt động sống, vi sinh vật dạ cỏ còn tạo thành các thể khí với số lượng lớn, ở dê: 1. Số lượng và thành phần các thể khí phụ thuộc vào loại thức ăn và mức độ của quá trình lên men trong dạ cỏ. Sự tạo thành các thể khí mạnh nhất khi cho ăn thức ăn tươi, nhất là sản phẩm cây họ đậu.

Thành phần các chất khí trong dạ cỏ gồm có: Khí cacbonic 50 - 60%, metan 40 - 50%, nitơ, hydro, sunfuahydro và oxy. Các thể khí trong dạ cỏ được thải ra ngoài nhờ phản xạ ợ hơi. Phản xạ này do các kích thích của áp lực chất khí vào tiền đình dạ cỏ làm cho dạ cỏ co bóp đẩy hơi ra ngoài. Nếu phản xạ ợ hơi bị trở ngại thì sinh ra chứng chướng bụng đầy hơi.

Dạ tổ ong là một túi trung gian vận chuyển thức ăn. Giữa tiền đình dạ cỏ và dạ tổ ong có một cái gờ. Khi co bóp gờ này sẽ che lấp một phần giữa dạ tổ ong và dạ cỏ nên chỉ có thức ăn loãng và nghiền nhỏ mới có thể qua đó vào dạ tổ ong. Khi dạ tổ ong co bóp thức ăn trong đó sẽ được pha trộn, một phần trở vào dạ cỏ, một phần vào dạ lá sách.

Ngoài ra, các dị vật có thể bị giữ lại ở dạ tổ ong, đó là chức năng kiểm tra dị vật. Tiêu hoá ở dạ lá sách: Dạ lá sách là một túi "ép lọc". Khi nó co bóp thì phần thức ăn loãng sẽ vào dạ múi khế, còn phần thức ăn thô sẽ được giữ lại giữa các lá để tiến hành Luan van 14 quá trình tiêu hoá cơ học. Trong dạ lá sách, nước và các acid béo bay hơi cấp thấp được hấp thu mạnh.

Tiêu hoá trong dạ múi khế: Dung tích dạ múi khế của dê là 7% so với các dạ khác, là phần dạ dày chính có tuyến tiết dịch vị và dịch nhầy. Dạ múi khế chỉ có thân vị và hạ vị, gồm từ 12 đến 16 gờ nổi lên như múi khế, có tác dụng tăng diện tích tiếp xúc của enzyme tiêu hoá với thức ăn. Quá trình tiêu hoá trong dạ múi khế giống như dạ dày đơn. Dịch vị tiết liên tục vì thức ăn từ dạ dày trước thường xuyên vào dạ múi khế.

Động tác ăn cũng ảnh hưởng đến sự tiết dịch của dạ múi khế. Một lần cho ăn dịch múi khế tăng tiết lên do có các phản xạ tác dụng lên tuyến múi khế. Trong dịch múi khế có enzyme pepsin, chymosin và lipaza. Lượng HCl thay đổi theo tuổi trong khoảng 0,12 - 0,46%.

Sự điều hoà hoạt động tiết dịch vị ở dạ múi khế cơ bản cũng do 2 cơ chế thần kinh và thể dịch như đối với dạ dày đơn. Sự tiết dịch bao gồm 2 pha: phản xạ và thần kinh thể dịch. Ngoài ra sự điều tiết còn do lượng acid béo bay hơi từ dạ dày trước đi vào, quan trọng nhất là acid propionic có tác dụng kích thích tiết dịch vị mạnh. Acid butyric với hàm lượng cao gây ức chế tiết dịch vị.

Sự nhai lại: Khi dê ăn, thức ăn chưa được nhai kỹ đã nuốt xuống. Sau khi vào dạ cỏ thức ăn được nước bọt và nước trong dạ dày thấm ướt, làm mềm ra, khi yên tĩnh gia súc lại ợ thức ăn lên miệng để nhai kỹ. Động tác nhai lại có thể chia làm 4 giai đoạn: ợ, nhai lại, hỗn hợp thức ăn và nuốt xuống. Nhai lại là một thích ứng sinh học giúp loài nhai lại ăn nhanh ngoài đồng cỏ và dự trữ được khối lượng thức ăn lớn trong dạ cỏ.

Ợ, nhai lại là một phản xạ phức tạp. Phản xạ này phát sinh do phần thô của thức ăn kích thích vào thụ quan cơ giới của màng nhầy dạ tổ ong, tiền đình dạ cỏ và rãnh thực Luan van 15 quản. Hưng phấn được truyền theo dây thần kinh nội tạng vào trung khu nhai lại ở hành tuỷ. Hưng phấn truyền ra theo dây thần kinh mê tẩu đến các cơ quan có quan hệ đến động tác ợ, gây phản xạ ợ lên.

Phản xạ này bắt đầu bằng nhu động ngược của tiền đình dạ cỏ, dạ tổ ong và rãnh thực quản, đẩy một phần thức ăn lên cửa thượng vị. Tiếp đó thực quản giãn nở, thức ăn đi vào thực quản và do nhu động ngược của thực quản đẩy thức ăn lên miệng, gây nên phản xạ nhai lại. Mỗi viên thức ăn được nhai từ 20 - 60 giây sau đó sẽ được nuốt trở lại dạ cỏ. Sau khi ăn, với trâu bò khoảng 30 - 70 phút, dê cừu 20 - 45 phút thì con vật có thể bắt đầu nhai lại, nhất là thời gian nằm nghỉ thì nhai lại dễ phát sinh.

Thời gian mỗi lần nhai lại bình quân 40 - 50 phút, sau đó nghỉ một thời gian rồi tiếp tục nhai lại. Mỗi ngày đêm dê trưởng thành nhai lại 6 - 8 lần (dê con đã ăn cỏ 16 lần). Thời gian dùng vào việc nhai lại mỗi ngày đêm là 7 - 8 giờ. Nhai lại là một hiện tượng sinh lý của loài nhai lại.

Nếu ngừng nhai lại sẽ dẫn đến hiệu quả không tốt: tiêu hoá kém, rối loạn tiêu hoá, chướng hơi dạ cỏ. Tiêu hoá ở ruột non: Tác dụng của dịch tuỵ - Nhóm enzyme phân giải protein: + Tripsin: enzyme chính của dịch tuỵ, được tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hoá trở thành dạng tripsin hoạt động. Sau đó nó lại tự hoạt hoá tripsinogen. Tripsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng như pepsin nhưng hoạt lực mạnh và triệt để hơn.

+ Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là chimotripsinogen sau khi được tripsin hoạt hoá sẽ chuyển thành dạng chimotripsin hoạt động pH tối ưu = 8 tác dụng tương tự như tripsin. + Elastase: phân giải elastin (gân, bạc nhạc) thành peptid và amino acid. + Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptid ở đầu có nhóm COO tự do và tách amino acid khỏi phân tử peptid. + Dipeptidase phân giải dipeptid thành 2 aminoacid.

Luan van 16 + Protaminase phân giải protamin thành peptid và amino acid. + Nuclease phân giải acid nucleic thành monocleotid. * Nhóm men phân huỷ glucid + Amylase dịch tuỵ hoạt động tối ưu trong pH = 7,1. Nó cắt liên kết 1 - 4 β glucosid của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose.

+ Maltase phân giải đường maltose thành glucose. * Nhóm enzyme phân giải lipid gồm: Lipaza, photpho lipaza, cholesterolesterase. Với ba enzyme của nhóm phân giải lipid, mọi loại lipid của thức ăn đều được tiêu hoá hết. * Tác dụng của dịch mật - Nhũ hoá mỡ: mật có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch, nó phân cắt mỡ thành các hạt nhũ tương nhỏ, tạo điều kiện cho enzyme lipase tác động dễ dàng và có hiệu quả giúp cho sự hấp thu ẩm bào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá khả năng sinh trưởng và phòng trị bệnh trên đàn dê lai tại trại chăn nuôi" của tác giả Bùi Văn Định, dưới sự hướng dẫn của GS. Từ Quang Hiển, trình bày những kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và các biện pháp phòng trị bệnh cho đàn dê lai tại trại chăn nuôi. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về sự phát triển của dê lai mà còn đề xuất các phương pháp hiệu quả để nâng cao sức khỏe và năng suất của đàn dê. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng chăn nuôi và tăng cường hiệu quả kinh tế cho các trại chăn nuôi.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của chăn nuôi thú y, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê trên địa bàn huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển chăn nuôi dê tại một khu vực khác. Bên cạnh đó, bài viết Đề cương nghiên cứu khoa học cho luận văn ngành chăn nuôi thú y cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực này. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu tác động của việc bổ sung vitamin C đến năng suất và chất lượng trứng gà Hyline sẽ mở rộng thêm kiến thức về dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến chăn nuôi thú y.