Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycinemax (L) Merr) là cây công nghiệp, thực phẩm ngắn ngày có tác dụng nhiều mặt trong đời sống xã hội như cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc, cải tạo đất và đứng đầu trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ép dầu. Đậu tương là cây trồng dễ tính, có khả năng thích ứng rộng, không kén đất, không đòi hỏi bón nhiều phân đạm vì bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định đạm, tạo ra lượng đạm sinh học cung cấp cho cây và tăng độ phì đất. Cây đậu tương là cây trồng ngắn ngày, do vậy dễ dàng tham gia vào các công thức luân canh như trồng xen, trồng gối, luân canh. Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hydratcacbon từ 15 - 16%, nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống.
Trong lĩnh vực y học, đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu tương sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hạt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Protein đậu tương dễ tiêu hóa hơn protein thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ em và người già. Ngoài ra, chất lixithin trong đậu tương có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể (Phạm Văn Thiề u, 2006) [11].
Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái nguyên. Tại đây cây đậu tương đã trở thành cây trồng không thể thiếu trong công thức luân canh, tăng vụ (lúa Xuân sớm - lúa Mùa - đậu tương hoặc đậu tương Xuân - lúa Mùa - cây vụ Đông) do đó góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích. Hơn nữa ngay trong địa bàn huyện đã có làng nghề sản xuất đậu phụ nổi tiếng tại xã Bình Long. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong huyện luôn giảm.
Năm c 2 2010 diện tích là 385 ha, năng suất 15,03 tạ/ha, sản lượng 579 tấn. Năm 2015 diện tích là 211 ha, năng suất 13,9 tạ/ha, sản lượng 293,2 tấn (Niên giám thống kê huyện Võ Nhai, 2015) [15]. Nguyên nhân là do chưa có bộ giống đậu tương thích hợp, người dân canh tác dựa vào kinh nghiệm truyền thống, không chú trọng thâm canh. Trong những năm gần đây, theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) giống đậu tương ĐT51 có nhiều ưu điểm vượt trội như sinh trưởng khỏe, ra nhiều hoa, tỷ lệ đậu quả cao, năng suất cao, chất lượng tốt có thể trồng được 3 vụ/năm, khi thu hoạch thân, lá vẫn còn xanh nên hàm lượng chất hữu cơ nhiều, khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt.
Giống đậu tương ĐT51 đã được trồng tại Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên và cho thấy năng suất cao, phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai ở nhiều vùng khác nhau. Vụ Hè Thu có thời gian chiếu sáng ngày dài, hoa đậu tương sẽ nở muộn, thời gian sinh trưởng kéo dài, cuối vụ mưa nhiều gây khó khăn gây khó khăn cho công tác phơi hạt, dễ bị nuốc, cây cũng dễ đổ ngã, ảnh hưởng đến phẩm chất hạt (Lê Thiện Tùng, 2007) [12]. Để xác định được thời điểm trồng thích hợp cho giống đậu tương ĐT51, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục đích đề tài Xác định được thời vụ trồng thích hợp cho sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Yêu cầu của đề tài - Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của giống đậu tương ĐT51 ở các TV trồng khác nhau. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 ở các TV trồng khác nhau. c 3 - Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống đậu tương ĐT51 ở các TV trồng khác nhau. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 ở các TV trồng khác nhau.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung cơ cấu giống cây trồng cho vụ Hè thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sẽ xác định thêm các biện pháp kỹ thuật như mật độ, phân bón. thích hợp cho giống đậu tương ĐT51 trồng vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Hiện nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, chính vì vậy các loại cây trồng đóng vai trò vô cùng quan trọng, trong đó cây đậu tương có những đóng góp rất lớn. Trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, năng suất cây trồng của nhiều nước trên thế giới so với nước ta có sự vượt trội. Vấn đề thiết yếu của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay là cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng.
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển. Do đó đòi hỏi sản xuất canh tác phải thích hợp thì mới phát huy hết tiềm năng về năng suất của giống mới. Thời vụ trồng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương. Thời vụ trồng đậu tương được xác định căn cứ vào giống, hệ thống luân canh, điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là nhiệt độ (Phạm Văn Thiều, 2006) [11].
Tuy nhiên theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương có những yêu cầu khác nhau. Bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp, tạo điều kiện cho các yếu tố khí hậu thời tiết bên ngoài phù hợp với yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây đậu tương ở từng thời kỳ mới đảm bảo cho đậu tương được năng suất cao. Đậu tương có thể trồng được quanh năm nhưng tuỳ theo điều kiện sinh thái của từng vùng mà đậu tương được gieo trồng trong các vụ chính khác nhau. Do vậy việc xác định thời vụ gieo trồng thích hợp cho cây đậu tương là rất cần thiết, góp phần làm tăng năng suất, chất lượng, tránh được thời tiết bất thuận, sâu bệnh hại mang lại hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân.
Cơ sở thực tiễn Hiện nay, hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích bỏ hóa còn nhiều, tập trung chủ yếu là những diện tích không chủ động nước, chưa có công trình thủy lợi để phục vụ sản xuất. Việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết. Một mặt góp phần tăng vụ và tận dụng diện tích đất bỏ hóa, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, mặt khác góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất, nghiên cứu thời vụ trồng đậu tƣơng trên thế giới 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu. Do vậy đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73%, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15% (Lê Hoàng Độ và Cs, 1997) [5]. Do giá trị nhiều mặt của cây đậu tương và do nhu cầu sử dụng nguồn protein ngày càng cao, đồng thời đậu tương có khả năng thích ứng khá rộng nên được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ.
Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới 5 năm gần đây Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (triệu tấn) 2010 102,79 25,77 264,91 2011 103,82 25,20 261,60 2012 105,37 22,93 241,58 2013 111,63 24,91 278,09 2014 117,72 26,20 308,44 (Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2014)[23] c 6 Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy: Diện tích: Những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới hàng năm không ngừng tăng. Năm 2014 diện tích tăng khoảng 15 triệu ha so với năm 2010. Diện tích trồng đậu tương lớn nhất trên thế giới là 117,72 triệu ha vào năm 2014. Năng suất: Trong 5 năm, từ năm 2010 - 2014 năng suất đậu tương trên thế giới tương đối ổn định dao động từ 22,93 đến 26,2 tạ/ha.
Năm 2012, năng suất đậu tương trên thế giới thấp nhất là 22,93 tạ/ha. Năm 2014, năng suất đậu tương cao nhất là 26,2 tạ/ha. Sản lượng: Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên,trong 4 năm từ 2010 - 2014 tăng 43,53 triệu tấn. Điều này càng khẳng định vị trí quan trọng của cây đậu tương trong sản xuất nông nghiệp.
Các nước sản xuất lớn như: Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc… Đây là một trong những cây trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng gia tăng. Năng suất và hàm lượng protein là chỉ tiêu phản ánh tiến độ nghiên cứu về đậu nành trên thế giới. Dự báo diện tích trồng đậu nành trên thế giới có khả năng tăng nhiều vào cuối thập kỷ này do chính sách quản lý và thương mại của các quốc gia, đặc biệt trong hoàn cảnh ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng các giống được cải tiến thông qua chỉ thi phân tử, biến đổi gen (Clive James, 2011) [17]. Diện tích đậu nành trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Argenina, Ấn Độ trong đó Mỹ thường chiếm 1/3 diện tích đậu nành hàng năm (31 triệu ha).