Luận văn ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương đt51 vụ hè thu 2016 tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và năng suất đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai, Thái Nguyên, giúp tối ưu hiệu quả canh tác.

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

77
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài

2.1.1. Cơ sở khoa học

2.1.2. Cơ sở thực tiễn

2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam

2.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới

2.2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

2.2.3. Tình hình sản xuất đậu tương tại tỉnh Thái Nguyên và huyện Võ Nhai

3. PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP

3.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.2. Địa điểm, thời gian và điều kiện đất đai nghiên cứu

3.1.3. Nội dung nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.2.2. Quy trình kỹ thuật

3.2.3. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu theo dõi

3.3. Phương pháp xử lí số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong điều kiện vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai - Thái Nguyên

4.1.1. Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51

4.1.2. Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh thái và số cành cấp 1 của giống đậu tương ĐT51

4.1.3. Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh lý giống đậu tương ĐT51 tại Võ Nhai - Thái Nguyên

4.1.4. Ảnh hưởng của mật độ đến chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy chất khô

4.1.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng hình thành nốt sần

4.1.6. Ảnh hưởng của mật độ đến mức độ nhiễm sâu hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu tại Võ Nhai - Thái Nguyên

4.1.7. Ảnh hưởng mật độ trồng đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu tại Võ Nhai - Thái Nguyên

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51

Mật độ trồng là yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51. Nghiên cứu cho thấy, khi mật độ trồng tăng lên, cây đậu tương phải cạnh tranh với nhau về ánh sáng, nước và dinh dưỡng. Điều này dẫn đến sự phát triển kém của cây, làm giảm khả năng tích lũy chất khô và năng suất. Theo số liệu thu thập được, mật độ trồng từ 30-40 cây/m2 cho thấy sự phát triển tốt nhất về chiều cao và số lượng cành cấp 1. Cây trồng ở mật độ thấp hơn 30 cây/m2 có xu hướng phát triển mạnh mẽ hơn, nhưng lại không tối ưu hóa năng suất do không đủ số lượng cây trên một đơn vị diện tích. Ngược lại, mật độ cao hơn 40 cây/m2 dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt, làm giảm khả năng sinh trưởng và năng suất. Kết quả này cho thấy việc xác định mật độ trồng hợp lý là rất quan trọng để tối ưu hóa năng suất và chất lượng của giống đậu tương ĐT51.

1.1. Thời gian sinh trưởng

Thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 chịu ảnh hưởng lớn từ mật độ trồng. Nghiên cứu cho thấy, mật độ cao làm giảm thời gian sinh trưởng của cây, dẫn đến việc cây không kịp phát triển đầy đủ trước khi thu hoạch. Cụ thể, ở mật độ 50 cây/m2, thời gian sinh trưởng trung bình giảm khoảng 5-7 ngày so với mật độ 30 cây/m2. Điều này có thể do sự cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng, khiến cây không thể phát triển tối ưu. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa mật độ và thời gian sinh trưởng sẽ giúp nông dân điều chỉnh lịch gieo trồng và mật độ hợp lý, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

II. Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất

Năng suất của giống đậu tương ĐT51 có sự biến động rõ rệt theo mật độ trồng. Nghiên cứu cho thấy, mật độ tối ưu để đạt năng suất cao nhất là từ 30-40 cây/m2. Ở mật độ này, cây có đủ không gian để phát triển, đồng thời vẫn duy trì được sự cạnh tranh cần thiết để tối ưu hóa năng suất. Khi mật độ tăng lên 50 cây/m2, năng suất bắt đầu giảm do sự cạnh tranh quá mức giữa các cây. Kết quả thu được cho thấy, năng suất trung bình ở mật độ 30 cây/m2 đạt 25 tạ/ha, trong khi ở mật độ 50 cây/m2 chỉ đạt 18 tạ/ha. Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn mật độ trồng phù hợp không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn đến chất lượng hạt đậu tương. Năng suất cao không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

2.1. Các yếu tố cấu thành năng suất

Năng suất của giống đậu tương ĐT51 không chỉ phụ thuộc vào mật độ mà còn vào nhiều yếu tố cấu thành khác như số lượng quả trên cây, khối lượng hạt và tỷ lệ hạt đạt tiêu chuẩn. Nghiên cứu cho thấy, ở mật độ 30 cây/m2, số lượng quả trên cây đạt trung bình 50 quả, trong khi ở mật độ 50 cây/m2, con số này giảm xuống còn 35 quả. Khối lượng hạt cũng giảm đáng kể ở mật độ cao, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối cùng. Việc hiểu rõ các yếu tố cấu thành năng suất sẽ giúp nông dân có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình canh tác, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất.

02/03/2025
Luận văn ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương đt51 vụ hè thu 2016 tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycinemax (L) Merrill ) là một trong số 5 loại cây trồng chính quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam cây đậu tương là loại cây công nghiệp ngắn ngày rất được quan tâm và phát triển. Do đậu tương là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao và là cây trồng đa tác dụng. Sản phẩm của đậu tương cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị.

Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất và bồi dưỡng đất rất tốt, có được khả năng này là do có sự cộng sinh giữa rễ với vi khuẩn nốt sần có khả năng cố định nitơ trong không khí làm giàu đạm cho đất. Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38-40%, lipit từ 15-20%, hydratcacbon từ 15-16%, nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống. Trong lĩnh vực y học, đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu tương sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hạt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột.

Prôtêin đậu tương dễ tiêu hóa hơn prôtêin thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ em và người già. Ngoài ra, chất lixithin trong đậu tương có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể (Phạm Văn Thiều , 2006) [9]. Từ các giá trị trên của đậu tương, với ưu thế là cây ngắn ngày dễ trồng nên rất thuận tiên để bố trí các công thức luân canh, nên thực tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đậu tương được trồng khá phổ biến. Tuy nhiên, n 2 thực tế trồng đậu tương ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là năng suất vẫn còn rất thấp, sản lượng đậu tương chưa đáp ứng được nhu cầu và chế biến.

Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Võ Nhai quan tâm chỉ đạo sản xuất vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của huyện. Là cây trồng không quá kén đất, có thể gieo trồng cả 3 vụ, có khả năng cải tạo đất. Hơn nữa ngay trong địa bàn huyện đã có làng nghề sản xuất đậu phụ nổi tiếng tại xã Bình Long. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích và sản lượng đậu tương của huyện giảm mạnh, năm 2010 diện tích là 385 ha, năng suất 15,03 tạ/ha, sản lượng 579 tấn thì đến năm 2015 diện tích là 211 ha, năng suất 13,9 tạ/ha, sản lượng 293,2 tấn (UBND huyện Võ Nhai, 2015).

Điều này có thể do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến chưa có các giống thích hợp với điều kiện sinh thái điều kiện sản xuất ở đây, khi đã có giống tốt thì phải thì việc hiểu biết việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật của người dân còn nhiều hạn chế trong đó việc xác định mật độ hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, mật độ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng phát triển năng suất và khả năng chống chịu của cây. Xuất phát từ những thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại Huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Xác định mật độ thích hợp nhằm nâng cao năng suất giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến một số đặc điểm hình thái của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh lí của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sâu bệnh hại và khả năng chống đổ ở các mật độ khác nhau của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.1 Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học để bổ sung giống đậu tương mới cho cơ cấu cây trồng tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên đồng thời trên cơ sở xác định được mật độ trồng thích hợp sẽ xây dựng các biện pháp kỹ thuật : Phân bón, thời vụ. Cho giống đậu tương ĐT51 trồng vụ hè thu tại Thái Nguyên.2 Ý nghĩa thực tiễn Là cơ sở khuyến cáo kỹ thuật cho nhân dân lựa chọn mật độ trồng phù hợp cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để đưa vào áp dụng sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể nhằm khai thác tốt nhất khoảng không gian và mặt đất nhằm thu được sản lượng cao nhất trên 1 đơn vị diện tích. Mỗi một loại cây trồng yêu cầu một mật độ trồng nhất định.

Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng tối đa các điều kiện của đồng ruộng giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó tăng năng suất và chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế. Khi trồng ở mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết. Khi đất không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cây sẽ phát triển kém, năng suất thấp. Trong khoảng không gian hẹp, để có thể lấy được ánh sáng cây phải phát triển chiều cao cây tối đa vì vậy sẽ làm cho cây yếu, khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh kém.

Trồng ở mật độ thấp cây không phải cạnh tranh dinh dưỡng nên sinh trưởng phát triển tốt, cho quả, hạt nhưng năng suất quần thể giảm. Vì vậy việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Cơ sở thực tiễn Thái nguyên là tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc, điều kiện đất đai, thời tiết phù hợp để sản xuất cây đậu tương. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương luôn giảm: Năm 2005 diện tích là 3389 ha; năm 2010 là 1576 ha; năm 2011 là 1559 ha; năm 2012 là 1418 ha; năm 2013 là 1309 ha (Thống Kê Tỉnh Thái Nguyên, 2013).

Tại huyện võ nhai diện tích n 5 trồng đậu tương cũng giảm: Năm 2010 là 385 ha; đến năm 2015 chỉ còn 211 ha, năng suất chỉ đạt 13,9 tạ/ha (Cục Tổng Thống Kê Tỉnh Thái Nguyên). Trong những nguyên nhân dẫn đến việc giảm diện tích và năng suất có thể kể đến là thiếu bộ giống mới phù hợp với vùng sản xuất, thiếu biện pháp kỹ thuật phù hợp để có năng suất cao. Xuất phát từ thực tiễn đó cần phải khảo nghiệm giống đậu tương xác định mật độ sao cho phù hợp với từng vùng nhằm nâng cao năng suất góp phần tăng cơ cấu cây trồng cho bà con nông dân. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.

Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương (Glycine max L.) là cây trồng ngắn ngày có khả năng thích ứng rộng đồng thời là một trong những cây trồng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao nên được nhiều quốc gia trên thế giới tập trung phát triển điển hình như các nước như : Mỹ, Brazil , Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ. Sản lượng của các nước này chiếm khoảng 90-95% sản lượng đậu tương trên thế giới. Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: Đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu,lanh, dừa và cọ dầu.

Do vậy đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới nhưng tập trung ở Châu Mỹ chiếm tới 73,03% tiếp đó là các khu vực Châu Á chiếm 23. Còng lại là ở các châu lục khác. Tính đến năm 2008, trên thế giới có trên 101 nước trồng đậu tương, đặc biệt, diện tích và sản lượng đã không ngừng gia tăng qua các năm. Hiện nay, cây đậu tương đã được đem trồng ở khắp các châu lục và là cây lấy hạt lấy dầu quan trọng bậc nhất thế giới.

Vì vậy cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất. Tình hình đầu tư sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lƣợng đậu tƣơng trên thế giới Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2008 96,46 23,974 231,27 2009 99.1 cho thấy : Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên, dao động từ 96,46 đến 117,71 triệu ha trong vòng từ 7 năm qua từ 2008 - 2014 diện tích trồng đậu tương tăng 21,25 triệu ha, tăng 20. Qua bảng số liệu trên cho ta thấy diện tích trồng đậu tương trên thế giới ngày càng tăng lên.

Về năng suất : Năng suất đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua dao động tương từ 23,974 tạ/ha đến 25,772 tạ/ha. Đặc biệt ở năm 2014 vừa qua năng suất đậu tương đạt cao nhất là 26,201 tạ/ha và thấp nhất ở năm 2009 đạt 22,490 tạ/ha. Về sản lượng: Nhìn chung sản lượng đậu tương trên thế giới đều tăng qua các năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và năng suất đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại Võ Nhai, Thái Nguyên là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tác động của mật độ trồng đến sự phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT51 trong điều kiện vụ hè thu tại khu vực Võ Nhai, Thái Nguyên. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách điều chỉnh mật độ trồng để tối ưu hóa năng suất, đồng thời giúp nông dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả canh tác.

Để mở rộng kiến thức về ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng phát triển và năng suất giống bí đỏ goldstar 998 trong điều kiện vụ xuân tại thái nguyên. Ngoài ra, nếu quan tâm đến tác động của mật độ trồng đối với các loại cây khác, Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của mật độ tới sinh trưởng phát triển cây râu mèo orthsiphon stamineus benth cũng là một tài liệu hữu ích để khám phá thêm.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên sâu mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng trong điều kiện canh tác cụ thể.