Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycinemax (L) Merrill ) là một trong số 5 loại cây trồng chính quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam cây đậu tương là loại cây công nghiệp ngắn ngày rất được quan tâm và phát triển. Do đậu tương là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao và là cây trồng đa tác dụng. Sản phẩm của đậu tương cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất và bồi dưỡng đất rất tốt, có được khả năng này là do có sự cộng sinh giữa rễ với vi khuẩn nốt sần có khả năng cố định nitơ trong không khí làm giàu đạm cho đất. Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38-40%, lipit từ 15-20%, hydratcacbon từ 15-16%, nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống. Trong lĩnh vực y học, đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu tương sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hạt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột.
Prôtêin đậu tương dễ tiêu hóa hơn prôtêin thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ em và người già. Ngoài ra, chất lixithin trong đậu tương có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể (Phạm Văn Thiều , 2006) [9]. Từ các giá trị trên của đậu tương, với ưu thế là cây ngắn ngày dễ trồng nên rất thuận tiên để bố trí các công thức luân canh, nên thực tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đậu tương được trồng khá phổ biến. Tuy nhiên, n 2 thực tế trồng đậu tương ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là năng suất vẫn còn rất thấp, sản lượng đậu tương chưa đáp ứng được nhu cầu và chế biến.
Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Võ Nhai quan tâm chỉ đạo sản xuất vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của huyện. Là cây trồng không quá kén đất, có thể gieo trồng cả 3 vụ, có khả năng cải tạo đất. Hơn nữa ngay trong địa bàn huyện đã có làng nghề sản xuất đậu phụ nổi tiếng tại xã Bình Long. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích và sản lượng đậu tương của huyện giảm mạnh, năm 2010 diện tích là 385 ha, năng suất 15,03 tạ/ha, sản lượng 579 tấn thì đến năm 2015 diện tích là 211 ha, năng suất 13,9 tạ/ha, sản lượng 293,2 tấn (UBND huyện Võ Nhai, 2015).
Điều này có thể do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến chưa có các giống thích hợp với điều kiện sinh thái điều kiện sản xuất ở đây, khi đã có giống tốt thì phải thì việc hiểu biết việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật của người dân còn nhiều hạn chế trong đó việc xác định mật độ hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, mật độ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng phát triển năng suất và khả năng chống chịu của cây. Xuất phát từ những thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại Huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Xác định mật độ thích hợp nhằm nâng cao năng suất giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến một số đặc điểm hình thái của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh lí của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sâu bệnh hại và khả năng chống đổ ở các mật độ khác nhau của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.1 Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học để bổ sung giống đậu tương mới cho cơ cấu cây trồng tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên đồng thời trên cơ sở xác định được mật độ trồng thích hợp sẽ xây dựng các biện pháp kỹ thuật : Phân bón, thời vụ. Cho giống đậu tương ĐT51 trồng vụ hè thu tại Thái Nguyên.2 Ý nghĩa thực tiễn Là cơ sở khuyến cáo kỹ thuật cho nhân dân lựa chọn mật độ trồng phù hợp cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để đưa vào áp dụng sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể nhằm khai thác tốt nhất khoảng không gian và mặt đất nhằm thu được sản lượng cao nhất trên 1 đơn vị diện tích. Mỗi một loại cây trồng yêu cầu một mật độ trồng nhất định.
Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng tối đa các điều kiện của đồng ruộng giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó tăng năng suất và chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế. Khi trồng ở mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết. Khi đất không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cây sẽ phát triển kém, năng suất thấp. Trong khoảng không gian hẹp, để có thể lấy được ánh sáng cây phải phát triển chiều cao cây tối đa vì vậy sẽ làm cho cây yếu, khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh kém.
Trồng ở mật độ thấp cây không phải cạnh tranh dinh dưỡng nên sinh trưởng phát triển tốt, cho quả, hạt nhưng năng suất quần thể giảm. Vì vậy việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Cơ sở thực tiễn Thái nguyên là tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc, điều kiện đất đai, thời tiết phù hợp để sản xuất cây đậu tương. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương luôn giảm: Năm 2005 diện tích là 3389 ha; năm 2010 là 1576 ha; năm 2011 là 1559 ha; năm 2012 là 1418 ha; năm 2013 là 1309 ha (Thống Kê Tỉnh Thái Nguyên, 2013).
Tại huyện võ nhai diện tích n 5 trồng đậu tương cũng giảm: Năm 2010 là 385 ha; đến năm 2015 chỉ còn 211 ha, năng suất chỉ đạt 13,9 tạ/ha (Cục Tổng Thống Kê Tỉnh Thái Nguyên). Trong những nguyên nhân dẫn đến việc giảm diện tích và năng suất có thể kể đến là thiếu bộ giống mới phù hợp với vùng sản xuất, thiếu biện pháp kỹ thuật phù hợp để có năng suất cao. Xuất phát từ thực tiễn đó cần phải khảo nghiệm giống đậu tương xác định mật độ sao cho phù hợp với từng vùng nhằm nâng cao năng suất góp phần tăng cơ cấu cây trồng cho bà con nông dân. Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương (Glycine max L.) là cây trồng ngắn ngày có khả năng thích ứng rộng đồng thời là một trong những cây trồng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao nên được nhiều quốc gia trên thế giới tập trung phát triển điển hình như các nước như : Mỹ, Brazil , Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ. Sản lượng của các nước này chiếm khoảng 90-95% sản lượng đậu tương trên thế giới. Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: Đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu,lanh, dừa và cọ dầu.
Do vậy đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới nhưng tập trung ở Châu Mỹ chiếm tới 73,03% tiếp đó là các khu vực Châu Á chiếm 23. Còng lại là ở các châu lục khác. Tính đến năm 2008, trên thế giới có trên 101 nước trồng đậu tương, đặc biệt, diện tích và sản lượng đã không ngừng gia tăng qua các năm. Hiện nay, cây đậu tương đã được đem trồng ở khắp các châu lục và là cây lấy hạt lấy dầu quan trọng bậc nhất thế giới.
Vì vậy cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất. Tình hình đầu tư sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lƣợng đậu tƣơng trên thế giới Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2008 96,46 23,974 231,27 2009 99.1 cho thấy : Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên, dao động từ 96,46 đến 117,71 triệu ha trong vòng từ 7 năm qua từ 2008 - 2014 diện tích trồng đậu tương tăng 21,25 triệu ha, tăng 20. Qua bảng số liệu trên cho ta thấy diện tích trồng đậu tương trên thế giới ngày càng tăng lên.
Về năng suất : Năng suất đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua dao động tương từ 23,974 tạ/ha đến 25,772 tạ/ha. Đặc biệt ở năm 2014 vừa qua năng suất đậu tương đạt cao nhất là 26,201 tạ/ha và thấp nhất ở năm 2009 đạt 22,490 tạ/ha. Về sản lượng: Nhìn chung sản lượng đậu tương trên thế giới đều tăng qua các năm.