Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lí luận của việc bón phân cho bí đỏ Theo Đào Thế Tuấn (1970) [16] viết “Nếu chỉ dựa vào tàn dư thực vật để bón cho cây trồng thì phải dùng tàn dư thực vật của 6 – 20 ha mới có đủ dinh dưỡng cung cấp cho 1ha thâm canh”. Vì vậy, nền nông nghiệp này cũng không thể đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng với yêu cầu của con người. Trong lịch sử phát triển nền nông nghiệp tại mỗi quốc gia trên thế giới đều đã, đang trải qua các hình thức phát triển và sử dụng phân bón.
- Nền nông nghiệp cổ điển: Là hái lượm (không trồng trọt) nên không đáp ứng được nhu cầu sống của con người khi dân số ngày càng tăng. - Nền nông nghiệp hữu cơ: Là dựa vào chăn nuôi để lấy phân và trồng cây phân xanh, tận dụng tàn dư thực vật, không dùng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật, dựa vào vi sinh vật sống trong đất và điều kiện phát triển vi sinh vật đất cung cấp dinh dưỡng cho cây… Việc bón phân cho cây thì chỉ bón các loại phân thiên nhiên. Nền nông nghiệp này cho năng suất cây trồng thấp, việc cung cấp dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng lại bấp bênh do phụ thuộc vào sự phân giải của vi sinh vật. Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần vào việc nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng và chất lượng của sản phẩm.
Tổng sản lượng nông sản tăng lên nhờ phân bón tại Việt Nam ước tính khoảng 35 – 40%, tại Trung Quốc khoảng 32% và trên toàn thế giới khoảng 50%. Đúng như nhận định của Yang trong hai năm 1998 - 1999: “Không có phân hoá học, nông nghiệp thế giới không thể nào trong 50 năm qua sản lượng tăng gấp 4 lần và trở thành một trong các yếu tố cơ bản của sự tăng mức sống ở các nước văn minh” [23]. 5 Đất là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thiếu của nhà nông, nhưng đất có thể bị suy kiệt đến mức độ không thể sản xuất được nữa nếu chúng ta không quan tâm đến bón phân cho cây trồng. Trong quá trình sử dụng có những yếu tố dinh dưỡng cây trồng lấy đi không cần bù trả lại vì hàm lượng của chúng quá nhiều trong đất.
Đất có thể bị suy kiệt dần nếu chỉ quan tâm trả lại các chất dinh dưỡng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch. Vì trong quá trình sinh trưởng của cây trồng, mùn (chất hữu cơ) bị phân huỷ để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời các chất dinh dưỡng khác có thể bị rửa trôi hay bay hơi dẫn đến mất chất dinh dưỡng từ đất. Việc duy trì hàm lượng mùn hợp lý trong đất có tác dụng rất rõ cho việc nâng cao hệ số sử dụng phân bón của cây trồng. Ngoài ra còn làm cơ sở cho việc tính lượng phân bón nhằm duy trì độ phì nhiêu của đất trong trồng trọt, đồng thời cũng mở đường cho việc phát triển sản xuất và việc sử dụng phân bón hoá học nhằm đạt hiệu quả trồng trọt ngày càng cao hơn.
Cây trồng nói chung và cây bí nói riêng trong quá trình sinh trưởng và phát triển bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố. Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bị chi phối bởi nhiều quy luật trong đó có quy luật cạnh tranh loài. Đó là cạnh tranh về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, quá trình hấp thụ nước, dinh dưỡng của từng cá thể. Nếu được hấp thụ tốt cây trồng sẽ phát triển tốt.
Để hạn chế sự cạnh tranh loài giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt thì mật độ là một yếu tố quan trọng. Mật độ là một trong những yếu tố chi phối điều kiện khí hậu đồng ruộng và ngược lại điều kiện khí hậu tác động trở lại đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Mật độ gieo trồng hợp lý sẽ tận dụng được các nguồn lực phân bón, nước, ánh sáng để cho năng suất cao. Mật độ thưa ánh sáng phân bố đều trên bề mặt cây từ gốc đến ngọn, sẽ tạo điều kiện để cây sinh trưởng tốt, phân cành nhiều, cây hút được nhiều dinh dưỡng, hoa quả dưới thấp có điều kiện phát triển, số quả trên cây lớn, diện tích lá trên cây cao, đó chính là tiền đề cho năng suất cá thể cao.
Nhưng nếu 6 trồng với mật độ quá thưa, cây sinh trưởng mạnh, diện tích lá trên cây lớn, tán phát triển quá rộng, hiệu quả sử dụng dinh dưỡng thấp gây lãng phí các nguồn lực nông nghiệp. Mật độ thưa có thể năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể thấp nên hiệu quả sản xuất lại thấp. Khi trồng với mật độ dày, các cây cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng nhiều, đường kính thân nhỏ và lá vươn dài, phân cành ít, diện tích lá trên cây thấp nhưng chỉ số diện tích lá cao nên các lá phía dưới không nhận được mà chỉ tiêu tốn dinh dưỡng hô hấp vô hiệu. Thời kỳ ra hoa kết quả lá rụng nhiều, khả năng quang hợp giảm ảnh hưởng tới sự tích luỹ chất dinh dưỡng cho quả và hạt, do vậy trồng dày số quả trên cây ít, nhỏ, năng suất từng cây thấp, nên năng suất chung kém lại tốn công, tốn giống.
Mật độ gieo trồng không chỉ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng mà cũng ảnh hưởng đến phát sinh và gây hại của sâu bệnh. Vì vậy, mật độ gieo trồng hợp lý được coi là biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh. Trồng quá thưa tạo điều kiện thuận lợi cho cỏ dại phát triển, tranh chấp dinh dưỡng với cây trồng. Trồng quá dày làm cho ruộng không thoáng, độ ẩm cao tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh phát triển và gây hại (rầy, rệp…).
Mật độ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất quần thể cây trồng. Một mật độ trồng hợp lý sẽ tăng năng suất và chất lượng bí, hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng và sâu bệnh hại và tận dụng tối đa diện tích sử dụng. Nguồn gốc, sự phân bố và phân loại của bí đỏ * Nguồn gốc và sự phân bố: Bí đỏ gồm 25 loài nhưng phát triển phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là các loài Cucurbita pepovà Cucurbita moschata, còn loài Cucurbitamaxima và Cucurbita mixta thích hợp ở vùng ôn đới có khí hậu mát. Trong một thời gian dài, nguồn gốc của bí đỏ là chủ đề gây tranh cãi.
Tuy nhiên theo nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học cho thấy, bí đỏ có nguồn 7 gốc từ Trung Mỹ và Nam Mỹ. Có nhiều nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng: Loài Cucurbita pepo phân bố rộng khắp ở các vùng bắc Mexico và Tây Nam Hoa Kỳ từ 7000 năm trước Công nguyên. Các loại bí hỗn hợp đã được ghi chép lại ở các thời kỳ tiền Columbus. Loài Cucurbita moschata đã xuất hiện ở Mexico và Peru từ hàng ngàn năm nay.
Ở Peru các nhà khảo cổ đã tìm được các mẫu hạt bí đỏ có niên đại 4000 năm trước Công nguyên. Loài Cucurbita mixta cũng được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ khi khai quật ở Peru có niên đại khoảng 1200 năm trước Công nguyên [18]. Bí đỏ được những người dân ở Bắc Mỹ thuần hóa trồng và sử dụng như một nguồn thức ăn chính. Đến thế kỷ XVI, khi những người da trắng đến định cư và từ đó bí đỏ được chuyển qua các nước châu Âu và dần trở thành phổ biến như ngày nay [18].
* Phân loại thực vật bí đỏ: Họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một họ thực vật bao gồm dưa hấu (Citrullus), dưa chuột (Cucumis), bí đao (Benincasa), bầu (Lagenaria), bí ngô (Cucurbita), mướp (Luffa), mướp đắng (Momordica)… Bí đỏ hay bí ngô là tên thông dụng để chỉ các loại cây thuộc các loài Cucurbita pepo, Cucurbita mixta, Cucurbitamaxima và Cucurbita moschata. Bộ này chủ yếu có mặt tại khu vực nhiệt đới và một lượng rất ít tại khu vực cận nhiệt đới và ôn đới. Bộ này có một số ít các loại cây bụi hay cây thân gỗ còn chủ yếu lá cây thân thảo hay dây leo. Một trong các đặc trưng đáng chú ý của bộ bầu bí (Cucurbitales) là hoa đơn tính, phần lớn là 5 cánh, với các cánh hoa nhọn và dày [18].
Thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng, nhưng cũng có thể nhờ gió như các họ Coriariaceae và Datiscaceae. Bộ này có khoảng 2.300 loài trong 7 họ và 129 chi. Các họ lớn nhất là họ thu hải đường (Begoniaceae) với 1400 loài trong 2 - 3 chi và họ Bầu bí (Cucurbitaceae) với 285 - 845 loài trong 118 chi. Một số đặc tính sinh vật học của cây bí đỏ 1.
Đặc tính thực vật học 1. Rễ bí đỏ Hệ thống rễ của bí đỏ phát triển rất mạnh. Rễ chính có thể ăn sâu tới 2m, khả năng tái sinh của rễ chính kém. Rễ phụ ăn lan rộng và phát triển mạnh ở tầng đất mặt, rễ phụ có khả năng ăn rộng tới 6m đường kính.
Cây có nhiều rễ bất định được mọc ra ở các đốt trên thân. Do có hệ thống rễ phát triển mạnh nên bí đỏ có khả năng chịu hạn tốt, tuy nhiên lại chịu úng kém. Cây có khả năng phát triển trên đất hơi phèn hoặc mặn [27].Thân bí đỏ Thân leo hoặc bò có tua cuốn, thân dài từ 2-10m. Độ dài ngắn, tròn hay có góc cạnh của thân tùy thuộc vào đặc điểm của giống.
Thân có khả năng ra rễ bất định ở đốt. Tua cuốn phân nhánh mọc ở đốt thân. Thân mọc chậm ở giai đoạn đầu khoảng ba tuần sau khi gieo. Bên trong thân rỗng và xốp, bên ngoài thân có nhiều lông tơ.
Các nhánh được sinh ra từ đốt trên thân. Các lóng trên thân phát triển rất nhanh [27]. Lá bí đỏ Lá mầm to có dạng hình trứng. Trong điều kiện chăm sóc tốt, các lá mầm có thể kéo dài tuổi thọ đến hết thời gian sinh trường của cây.
Lá đơn, mọc cách, cuống dài, phiến lá rộng, tròn hay góc cạnh, có xẻ thùy sâu hay nông tùy giống, màu xanh hoặc lốm đốm trắng… Diện tích mặt lá lớn nên có khả năng quang hợp mạnh. Trên bề mặt lá có nhiều lông tơ bao phủ nên hạn chế khả năng tiêu thụ nước [27]. Hoa bí đỏ Hoa đơn tính cùng cây, to, cánh màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng. Số lượng hoa đực nhiều hơn hoa cái từ 10-30 lần.
Hoa nằm đơn độc ở nách lá. Hoa có cánh màu vàng đậm, có bầu noãn hạ, cuống hoa dài, phần lớn hoa nở vào buổi sáng. Quả phát triển nhanh sau khi hoa cái nở. Khi nở hoa hướng lên 9 trên nhưng quả phát triển hướng xuống.