MỞ ĐẦU Trong chẩn đoán bằng giải phẫu bệnh, khi hình ảnh vi thể trên tiêu bản Hematoxylin-Eosin (HE) không điển hình sẽ gây ra ít nhiều khó khăn cho việc chẩn đoán và kết luận bệnh. Hóa mô miễn dịch (HMMD) ra đời nhằm đáp ứng được những yêu cầu mà hình ảnh mô học nhuộm bằng kỹ thuật nhuộm thường quy chưa thể giải quyết được triệt để. Ngoài việc tìm ra được nguồn gốc của những khối u, định hướng chẩn đoán, HMMD còn cho phép bác sĩ giải phẫu bệnh tìm hiểu về đặc tính của khối u, từ đó có thể phân loại, tiên lượng bệnh cũng như định hướng điều trị phù hợp cho các bác sĩ lâm sàng [23]. Trên thực tế, thỉnh thoảng vẫn có những trường hợp tiêu bản sau nhuộm không đạt yêu cầu chẩn đoán bởi quá trình cắt lọc không đúng vị trí mô bệnh, không còn mô hoặc tế bào quan tâm; hay do những lỗi kỹ thuật nhỏ xảy ra trong quá trình xử lý mô, đúc khối, cắt mỏng, v.
làm ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian và quá trình chẩn đoán. Trong những trường hợp này, các bác sĩ giải phẫu bệnh thường yêu cầu thực hiện việc lục lại bệnh phẩm, cắt lọc và nhuộm lại đối với các mẫu không đạt yêu cầu chẩn đoán. Tuy nhiên, do mẫu mô của bệnh nhân đã được lưu trữ trong formalin đệm trung tính 10% (NBF 10%) một khoảng thời gian dài cho nên việc sử dụng mẫu mô này để nhuộm HMMD có thể dẫn đến sai lệch kết quả, hoặc âm tính giả hoặc dương tính yếu. Việc này được giải thích là do các kháng nguyên hay quyết định kháng nguyên bị formalin tạo các liên kết chéo, che phủ bề mặt của các vị trí nhận diện kháng nguyên [34].
Chính điều này làm cho kháng thể không thể bắt cặp đặc hiệu được với kháng nguyên trên tế bào mà bác sĩ giải phẫu bệnh quan tâm. Ngoài ra, formalin mặc dù là chất cố định tối ưu nhất cho mô nhưng khả năng bảo tồn kháng nguyên sau một thời gian dài lưu trữ của formalin cũng còn hạn chế [21, 43]. Cố định mô đã được chứng minh đóng vai trò quan trọng trong kết quả chẩn đoán giải phẫu bệnh và HMMD. Mặc dù đã có hướng dẫn mức giới hạn về thời gian của việc cố định là từ 6 giờ cho đến 72 giờ, tốt nhất là 24 giờ tính từ thời điểm cho.
mô vào dung dịch formalin đệm trung tính. Tuy nhiên các nghiên cứu về việc kéo dài thời gian cố định là rất ít; kết quả của các nghiên cứu cũng có nhiều khác biệt do có sự khác nhau về kháng thể được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán ở các quốc gia; phương pháp tiến hành nghiên cứu và kỹ thuật thực hiện cũng khác nhau ở từng nghiên cứu. Vì thế, để tạo cơ sở, hỗ trợ cho việc chẩn đoán bệnh chính xác và đạt kết quả tốt nhất khi thực hiện kỹ thuật nhuộm HMMD trên mô bệnh học, nhất là khi phải sử dụng những mẫu mô bệnh đã lưu trữ lâu ngày trong formalin, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian cố định bằng dung dịch formalin đệm trung tính 10% lên sự biểu hiện của các dấu ấn trong kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch” với mong muốn xác định tình trạng biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch phổ biến trên mẫu mô được lưu trữ trong formalin thời gian dài; từ đó xác định thời điểm cố định mà kết quả đánh giá không bị sai lệch, cung cấp cho các bác sĩ giải phẫu bệnh những thông tin hữu ích, nhằm hạn chế tối đa sai sót khi gởi mẫu bệnh phẩm và phân tích kết quả, giảm thiểu chi phí chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân. Mục tiêu tổng quát: Khảo sát ảnh hưởng của việc kéo dài thời gian cố định bằng formalin lên khả năng biểu hiện của các dấu ấn trong kỹ thuật nhuộm HMMD.
Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá sự biểu hiện của các dấu ấn thông qua hình ảnh nhuộm HMMD của mẫu mô được cố định trong formalin ở những mốc thời gian khác nhau. - Xác định khoảng thời gian tối ưu có thể thực hiện nhuộm HMMD với mẫu mô cố định bằng formalin.1 Tổng quan hóa mô miễn dịch Hóa mô miễn dịch (Immunohistochemistry - IHC) là kỹ thuật nhuộm kết hợp giữa phản ứng hóa học (-chemistry) và phản ứng miễn dịch (Immuno-) trên mẫu mô (-histo-), nhằm phát hiện những kháng nguyên trên màng tế bào, trên nhân cũng như trong bào tương. Kỹ thuật HMMD sử dụng kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên hoặc quyết định kháng nguyên, kết hợp với hệ thống phát hiện giúp các bác sĩ giải phẫu bệnh nhìn thấy được các phức hợp kháng nguyên – kháng thể này bằng kính hiển vi quang học thông thường. Kỹ thuật nhuộm HMMD được sử dụng nhiều nhất trong các labo giải phẫu bệnh nhằm phục vụ cho công tác chẩn đoán là kỹ thuật nhuộm HMMD men, trong đó, hệ thống phát hiện bao gồm men (thông dụng nhất là Peroxidase củ cải ngựa (HRP)), chất nền (thông dụng nhất là H2O2) và chất màu (thông dụng nhất là Diaminobenzidine (DAB)).
Có nhiều phương pháp nhuộm HMMD dựa trên kỹ thuật này, chẳng hạn như phương pháp miễn dịch men trực tiếp, gián tiếp, sandwich, khuếch đại chuỗi HRP, v. Trên thế giới, HMMD từ lâu đã được sử dụng rộng rãi và rất hữu ích trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu ung thư. Tuy nhiên tại Việt Nam, kỹ thuật HMMD chỉ được thực hiện tại các cơ sở y tế lớn, có hệ thống chẩn đoán y khoa hiện đại và có đội ngũ nhân viên y tế nhiều kinh nghiệm. Một phần do HMMD vẫn được xem là một kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi không những chuyên môn của người thực hiện kỹ thuật mà còn cần sự cẩn thận, khéo léo, bởi chỉ cần thực hiện không chính xác một bước trong số các bước của kỹ thuật là sẽ cho kết quả sai lệch.
Một phần khác là do chi phí từ việc sử dụng kháng thể khá đắt, thời hạn sử dụng ngắn, không có nhiều đơn vị y tế có khả năng trang bị và áp dụng. Từ đó dẫn đến việc cho đến hiện tại, các nghiên cứu về kỹ thuật nhuộm HMMD tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. HMMD là công cụ phụ trợ quan trọng cho các bác sĩ giải phẫu bệnh bởi vì khả năng trực quan hóa sự phân bố (diện), số phân tử có mặt (lượng) cũng như đặc tính (chất) của phân tử, mà ở đây là kháng nguyên của tế bào mà các bác sĩ giải phẫu bệnh quan tâm. HMMD bao gồm phản ứng miễn dịch giữa kháng nguyên hiện diện trong mô (trong bào tương, trên màng tế bào hay trên nhân) và kháng thể (được chế tạo và thương mại hóa bằng các kit của nhà sản xuất) tạo thành phức hợp kháng nguyên – kháng thể ngay tại vị trí kháng nguyên của tế bào cần quan sát, và phản ứng hóa học giữa phức hợp kháng nguyên – kháng thể đã bắt cặp với các hóa chất cho thêm vào.
Có hai cách thông dụng để quan sát phức hợp này: - Miễn dịch huỳnh quang (Immunofluorescences – IF): Phức hợp kháng nguyên – kháng thể sẽ gắn với chất phát huỳnh quang (fluorochrome) và được quan sát bằng kính hiển vi huỳnh quang. Tùy thuộc loại chất màu được gắn vào kháng thể, khi chiếu tia cực tím vào sẽ cho ra màu sắc tương ứng như màu xanh táo của FITC (Fluorescein Isothiocyanate) hay màu đỏ của TRITC (Tetramethylrhodamin Isothiocyanate). Tuy nhiên, chi phí để đầu tư cho việc mua hóa chất, sinh phẩm và kính hiển vi huỳnh quang chuyên dụng có lắp bộ phận chiếu tia cực tím là khá cao, không phù hợp với khả năng kinh tế của bệnh nhân ở Việt Nam, nhất là khi chẩn đoán bằng HMMD bắt buộc phải phối hợp giữa nhiều dấn ấn khác nhau để cho ra kết chính xác; một phần khác khiến miễn dịch huỳnh quang ít được sử dụng là do tiêu bản sau nhuộm rất dễ bị nhạt màu dần theo thời gian, khó lưu trữ lâu. Hiện nay tại Việt Nam, miễn dịch huỳnh quang được sử dụng chính trong việc tìm kháng nguyên (trực tiếp) hoặc kháng thể (gián tiếp) của các vi sinh vật, các dấu ấn trong bệnh lý thận, bệnh lý da liễu và một số dấu ấn ung thư, v.
- Miễn dịch men: là kỹ thuật gắn phức hợp kháng nguyên – kháng thể với một loại men (peroxidase, hoặc alkalin phosphatase), sau đó gắn tiếp với chất chỉ thị màu (chromogen) và đem đi quan sát bằng kính hiển vi quang học thông thường. Hiện tại miễn dịch men được sử dụng phổ biến hơn tại các đơn vị giải phẫu bệnh có thực hiện kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch. Ưu điểm của miễn dịch men. hơn miễn dịch huỳnh quang là về chi phí thực hiện, thời gian lưu trữ cũng như trang thiết bị dùng để chẩn đoán.
Tuy nhiên, vì kỹ thuật miễn dịch men phải trải qua nhiều bước thực hiện và các hóa chất dễ bị tác động, ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài nên dễ dẫn đến sai lệch về sự biểu hiện màu, cường độ bắt màu khi quan sát dưới kính hiển vi quang học [28, 32, 35].2 Quy trình kỹ thuật giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch 1. Kỹ thuật thu thập, cắt lọc và cố định mẫu Mẫu thu thập phải là mẫu tươi hoặc đã được cố định trong dung dịch NBF10%, đảm bảo không quá 30 phút sau khi lấy ra khỏi cơ thể bệnh nhân. Việc cố định mẫu bằng dung dịch cố định giúp bất động cấu trúc tế bào và mô, hạn chế sự tự hủy và bảo quản hình thái cấu trúc giống tối đa như khi tế bào còn sống. Lưu ý khi đặt mẫu vào lọ chứa dung dịch cố định đảm bảo không có một phần nào của mẫu tiếp xúc với không khí hay dính trên thành lọ và yêu cầu thể tích dung dịch cố định tối thiểu phải gấp 20 lần thể tích mẫu.
Có nhiều loại dung dịch khác nhau để cố định mẫu mô như dung dịch Bouin, dung dịch Gendre, dung dịch Elftman, v. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các đơn vị y tế đều dùng dung dịch cố định NBF10% bởi sự tiện lợi, giá thành thấp, ít độc hơn các dung dịch cố định khác và cho kết quả cố định mô tốt hơn.