Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycinemax (L) Merr) là cây công nghiệp, thực phẩm ngắn ngày có tác dụng nhiều mặt trong đời sống xã hội như cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc, cải tạo đất và đứng đầu trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp ép dầu. Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt. 1 ha trồng đậu tương nếu sinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30 - 60 kg N (Phạm Văn Thiều, 2006) [14]. Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng suất cả hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho việc bón N.
Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hydratcacbon từ 15 - 16%, nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống. Trong lĩnh vực y học, đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu tương sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái nguyên. Tại đây cây đậu tương đã trở thành cây trồng không thể thiếu trong công thức luân canh, tăng vụ , do đó góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích.
Hơn nữa ngay trong địa bàn huyện đã có làng nghề sản xuất đậu phụ nổi tiếng tại xã Bình Long. Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong huyện luôn giảm. Năm 2010 diện tích là 385 ha, năng suất 15,03 tạ/ha, sản lượng 579 tấn. Năm 2015 diện tích là 211 ha, năng suất 13,9 tạ/ha, sản lượng 293,2 tấn (Niên giám thống kê huyện Võ Nhai, 2015) [12].
Nguyên nhân là do chưa có bộ giống đậu tương thích hợp, chưa xác định được liều lượng phân bón vô cơ thích hợp, người dân canh tác dựa vào kinh nghiệm h 2 truyền thống, không chú trọng thâm canh. Vụ Hè Thu có thời gian chiếu sáng ngày dài, hoa đậu tương sẽ nở muộn, thời gian sinh trưởng kéo dài, cuối vụ mưa nhiều gây khó khăn gây khó khăn cho công tác phơi hạt, dễ bị nuốc, cây cũng dễ đổ ngã, ảnh hưởng đến phẩm chất hạt (Lê Thiện Tùng, 2007) [13]. Trong những năm gần đây, theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) giống đậu tương ĐT51 có nhiều ưu điểm vượt trội như sinh trưởng khỏe, ra nhiều hoa, tỷ lệ đậu quả cao, năng suất cao, chất lượng tốt có thể trồng được 3 vụ/năm, khi thu hoạch thân, lá vẫn còn xanh nên hàm lượng chất hữu cơ nhiều, khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt. Để giống bộc lộ hết tiềm năng cần phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật cho giống trong đó có biện pháp sử dụng phân bón.
Vấn đề đặt ra là dùng phân bón như thế nào? Liều lượng bao nhiêu? Giải quyết cân đối các nguyên tố dinh dưỡng ra sao để vừa đảm bảo năng suất chất lượng mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế. Vì vậy chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân vô cơ đến sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục đích đề tài Xác định được tổ hợp phân vô cơ (NPK) thích hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Võ Nhai,tỉnh Thái Nguyên.
h 3 - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh lí giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Võ Nhai,tỉnh Thái Nguyên. - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến mức độ nhiễm sâu bệnh giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định tổ hợp phân bón vô cơ có ảnh hưởng tốt đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả ngiên cứu đề tài nhằm bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây đậu tương phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất ở địa phương.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương nói chung và trên đất Thái Nguyên nói riêng. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất đậu tương. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học Phát triển cây đậu tương một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất nông nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này không những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu dài đây là loại cây trồng mang lại nhiều giá trị. Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn, giống, phân bón, giá cả,. thì chúng ta cần có những biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp cho sản xuất. Phân bón có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng.
Nhu cầu về phân bón của các giống đậu tương khác nhau rất khác nhau. Việc bón phân nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây. Vì vậy muốn phát huy được hiệu quả của giống thì cần bón phân một cân đối và hợp lý. Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu sự tác động sâu sắc của môi trường và điều kiện trồng trọt.
Cùng một giống nhưng điều kiện chăm sóc khác nhau thì khả năng cho năng suất khác nhau. Do vậy trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất đậu tương nói riêng việc xác định được công thức phân bón thích hợp cho mỗi giống để chúng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, có ý nghĩa thực tiễn nhằm thúc đẩy sản xuất đậu tương phát triển là rất cần thiết. Cơ sở thực tiễn Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ có sự chuyển hướng về kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những thành tựu to lớn: Trước năm 1990 nước ta là một nước thiếu lương thực, thực phẩm nhưng đến năm 1990 nước ta đã là một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Vì vậy sản xuất h 5 nông nghiệp có điều kiện phát triển những cây trồng có giá trị cao trong đó cây đậu tương là cây trồng mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế bởi nó là cây thực phẩm vừa dễ trồng lại có hiệu quả kinh tế cao.
Tình hình sản xuất, nghiên cứu đậu tương trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu. Do vậy đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73%, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15% (Lê Hoàng Độ và Cs, 1997) [7]. Do giá trị nhiều mặt của cây đậu tương và do nhu cầu sử dụng nguồn protein ngày càng cao, đồng thời đậu tương có khả năng thích ứng khá rộng nên được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ. Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây Sản lượng Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) (triệu tấn) 2012 105,35 22,894 241,18 2013 111,01 24,999 277,53 2014 117,63 26,044 303,73 2015 120,79 26,757 323,20 2016 121,53 27,556 334,89 (Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2018)[25] h 6 Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy: Diện tích: Những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới hàng năm không ngừng tăng. Năm 2016 diện tích tăng khoảng 15 triệu ha so với năm 2012. Diện tích trồng đậu tương lớn nhất trên thế giới là 121,53 triệu ha vào năm 2016.
Năng suất: Trong 5 năm, từ năm 2012 - 2016 năng suất đậu tương trên thế giới tương đối ổn định dao động từ 22,894 đến 27,556 tạ/ha. Năm 2012, năng suất đậu tương trên thế giới thấp nhất là 22,894 tạ/ha. Năm 2016, năng suất đậu tương cao nhất là 27,556 tạ/ha tăng 4,662 tạ/ha so với năm 2012. Sản lượng: Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên trong 4 năm từ 2012 - 2016 tăng 93,71 triệu tấn.
Điều này càng khẳng định vị trí quan trọng của cây đậu tương trong sản xuất nông nghiệp. Các nước sản xuất lớn như: Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc… Đây là một trong những cây trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng gia tăng. Năng suất và hàm lượng protein là chỉ tiêu phản ánh tiến độ nghiên cứu về đậu nành trên thế giới. Dự báo diện tích trồng đậu nành trên thế giới có khả năng tăng nhiều vào cuối thập kỷ này do chính sách quản lý và thương mại của các quốc gia, đặc biệt trong hoàn cảnh ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng các giống được cải tiến thông qua chỉ thi phân tử, biến đổi gen (Clive James, 2011) [23].
Diện tích đậu nành trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Argenina, Ấn Độ trong đó Mỹ thường chiếm 1/3 diện tích đậu nành hàng năm (31 triệu ha). Có được thành công như vậy phải nói rằng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát triển đậu đỗ.