MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bí đỏ (bí ngô) có tên khoa học là Cucurbita pepo L. có tên tiếng Anh là Pumpkin được trồng ở khắp mọi miền của Việt Nam và được sử dụng làm thực phẩm giàu dinh dưỡng. Bí đỏ là loại cây dễ trồng, không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, các vùng sinh thái khác nhau và có thể trồng được tất cả các vụ trong năm.
Đồng thời là loại thực phẩm chứa nhiều vitamin A có tác dụng tốt cho sức khoẻ và có khả năng chữa được nhiều bệnh. Trồng bí đỏ không chỉ để lấy quả ngoài ra còn hoa, nụ, ngọn và lá non cũng được rất nhiều người ưa dùng. Bí đỏ là cây trồng rất quen thuộc với người dân tuy nhiên diện tích trồng còn ít, lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây không phù hợp với sự sinh trưởng của cây, kỹ thuật trồng cũng như chăm sóc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm người xưa. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại phân bón cho cây thành phần dinh dưỡng và cách sử dụng khác nhau do đó việc lựa chọn phân bón thích hợp cho cây trồng nói chung và cây bí đỏ nói riêng là rất cần thiết.
Phân bón hữu cơ vi sinh là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản [2]. Phân hữu cơ vi sinh nâng cao độ phì, làm đất tơi xốp: Khi bón phân hữu cơ, dưới tác động của độ ẩm và nhiệt độ, các hydrat cacbon sẽ được phân giải chậm thành mùn, axit humic, các chất dinh dưỡng cần thiết cho c 2 cây. Nhờ các chất hữu cơ, đất tơi xốp hơn, tăng khả năng thấm thoát nước, giúp cho bộ rễ phát triển nhiều.
Nâng cao chất lượng sản phẩm: Cùng một loại cây trồng nhưng trồng trong các điều kiện canh tác khác nhau sẽ cho chất lượng khác nhau. Một trong những cây trồng bị ảnh hưởng nhiều nhất là cây rau, các loại cây ngắn ngày (trong đó có bí đỏ). Chính vì vậy, để sản xuất ra bí đỏ có chất lượng cao thì việc sử dụng phân hữu cơ để canh tác cần được quan tâm hàng đầu. Hạn chế xói mòn đất và rửa trôi các chất dinh dưỡng: Các chất hữu cơ sẽ làm đất tơi xốp hơn, nhờ vậy sẽ tăng khả năng “cầm” chặt các chất ở dạng ion hoặc phân tử dưới dạng liên kết bền vững.
Làm sạch nguồn nước: Các chất hữu cơ hút hoặc giữ lại các chất hòa tan độc hại có trong nước như H2S, dư lượng phân hóa học Nitrat, Sunfat, Clor… dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm, ôxy… các chất độc sẽ dần bị phân hủy thành các chất ít hoặc không độc hại cho người và động vật. Nếu không có các chất hữu cơ, các chất độc hại sẽ được hòa tan và trôi tự do theo dòng nước thấm xuống các tầng nước sâu hoặc trôi ra ao hồ, sông, suối… Giảm sâu, bệnh hại: Với việc thâm canh cao độ sẽ làm cho cây phát triển nhanh về sinh khối như cành, lá rậm rạp, dễ hấp dẫn các loại côn trùng đến phá hại, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho một số loại nấm hại phát triển trên các bộ phận của cây như rễ, thân, lá, cành, quả… Khi bón nhiều phân hóa học lá cây sẽ to và mỏng hơn nên dễ bị sâu ăn lá và các loại nấm phá hại. Phân hữu cơ giúp các bộ phận cành lá, cây cứng cáp hơn, lá dày, khả năng chịu đựng các điều kiện bất lợi cũng tốt hơn, do vậy cây ít bị sâu bệnh hại. Hạn chế sử dụng thuốc hóa học: Do cây phát triển cân đối thân, cành, lá, sức đề kháng của cây với các điều kiện bất lợi của môi trường như hạn hán, lũ lụt, gió, ẩm, nóng, lạnh cũng tốt hơn.
Môi trường đất sạch, bộ rễ cây c 3 nhiều, đâm sâu. Các loại nấm có hại cũng không có điều kiện phát sinh và lây lan. Do vậy, chúng ta sẽ rất hạn chế dùng thuốc hóa học để bảo vệ cây trồng. Tạo môi trường tốt cho các vi sinh vật có lợi trong đất hoạt động: Phân hữu cơ sau khi phân hủy sẽ cung cấp mùn cho đất, làm tăng độ pH, độ chua đất giảm và tạo điều kiện cho các loại vi sinh vật trong đất phát triển.
Việc bổ sung đầy đủ phân hữu cơ sau mỗi vụ thu hoạch sẽ làm cho đất được tơi xốp, các chất mùn trong phân hữu cơ sẽ là thức ăn cho các loại vi sinh có ích, số lượng vi sinh vật có ích tăng đáng kể, trong khi các loại vi sinh có hại sẽ giảm. Tốt cho sức khỏe con người và động vật nuôi: Phân hữu cơ không gây ô nhiễm môi trường. Phân hữu cơ và các vi sinh vật có lợi trong đất sẽ biến các chất độc hại như H2S, CO2, NH3, CH4… thành các hợp chất không độc hại, nguồn nước sẽ sạch hơn và an toàn đối với người và gia súc. Xuất phát từ thực tiễn trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến năng suất của giống bí đỏ Goldstar 998 vụ đông 2016 tại Thái Nguyên” 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Xác định được loại phân hữu cơ thích hợp nhằm nâng cao năng suất giống bí đỏ Goldstar 998 vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên. Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hưởng của các phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và phát triển giống bí đỏ Goldstar 998. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ vi sinh đến khả năng chống chịu sâu bệnh hại của giống bí đỏ Goldstar 998.
Nghiên cứu ảnh hưởng của các phân hữu cơ vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống bí đỏ Goldstar 998. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Hữu cơ là chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất, quyết định kết cấu của đất, độ tơi xốp thoáng khí của đất, độ thấm nước và giữ nước của đất, hệ đệm của đất, tới số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất Phân hữu cơ có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố đa, trung, vi lượng mà không một loại phân khoáng nào có được.
Ngoài ra phân hữu cơ cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp lên, bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế mất nước trong quá trình bốc hơi nước từ mặt đất, chống được hạn, xói mòn. Việc bón phân hữu cơ làm tăng hiệu quả sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ từ cho cây trồng, hạn chế rửa trôi. Từ đấy mà làm giảm số lượng sử dụng phân vô cơ tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả [14]. Giống bí đỏ Goldstar 998 là giống F1 nên cây sinh trưởng phát triển khỏe, kháng bệnh virus rất tốt, trồng được quanh năm.
Năng suất rất cao, 3-4 quả/cây, quả nặng 1,5-1,8 kg. Quả đặc ruột, thịt dầy, có độ đồng đều cao, không bị bệnh ghẻ trên quả. Chất lượng ăn rất ngon (dẻo, ngọt. Thu hoạch sau gieo 75-80 ngày.
Tiềm năng năng suất 30-35 tấn/ha. Cơ sở thực tiễn Xác định được loại phân hữu cơ thích hợp nhằm nâng cao năng suất giống bí đỏ Goldstar 998 vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của bí đỏ 2. Nguồn gốc và phân loại Bí đỏ gồm 25 loài nhưng phát triển phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới là các loài Cucurbita pepo và Cucurbita moschata, còn loài Cucurbita maxima và Cucurbita mixta thích hợp ở vùng ôn đới có khí hậu c 5 mát.
Trong một thời gian dài, nguồn gốc của bí đỏ là chủ đề gây tranh cãi. Tuy nhiên theo nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học cho thấy, bí đỏ có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Nam Mỹ. Có nhiều nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng: Loài Cucurbita pepo phân bố rộng khắp ở các vùng bắc Mexico và Tây Nam Hoa Kỳ từ 7000 năm trước Công nguyên. Các loại bí hỗn hợp đã được ghi chép lại ở các thời kỳ tiền Columbus.
Loài Cucurbita moschata đã xuất hiện ở Mexico và Peru từ hàng ngàn năm nay. Ở Peru các nhà khảo cổ đã tìm được các mẫu hạt bí đỏ có niên đại 4000 năm trước Công nguyên. Loài Cucurbita mixta cũng được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ khi khai quật ở Peru có niên đại khoảng 1200 năm trước Công nguyên. Bí đỏ được những người dân ở Bắc Mỹ thuần hóa trồng và sử dụng như một nguồn thức ăn chính.
Đến thế kỷ XVI, khi những người da trắng đến định cư và từ đó bí đỏ được chuyển qua các nước châu Âu và dần trở thành phổ biến như ngày nay [7]. Một số tài liệu khác cho rằng bí đỏ cũng như các cây bầu bí khác có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ, Nam châu Á (Ấn Độ, Malacca, Nam Trung Quốc) do vậy yêu cầu về nhiệt độ để sinh trưởng và phát triển cao hơn các loại rau ăn quả khác như cà chua. Họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một họ thực vật bao gồm dưa hấu (Citrullus lanatus), dưa chuột (Cucumis), bí đao (Benincasa), bầu (Lagenaria), bí ngô (Cucurbita), mướp (Luffa), mướp đắng (Momordica)… Bí đỏ hay bí ngô là tên thông dụng để chỉ các loại cây thuộc các loài Cucurbita pepo, Cucurbita mixta, Cucurbita maxima và Cucurbita moschata. Họ bầu bí là một trong những họ quan trọng nhất cung cấp thực phẩm trên thế giới.
Phần lớn các loài trong họ này là các loại dây leo sống một năm với hoa khá lớn và có màu sắc sặc sỡ [1]. Bộ này chủ yếu có mặt tại khu vực nhiệt đới và một lượng rất ít tại khu vực cận nhiệt đới c 6 và ôn đới. Bộ này có một số ít các loại cây bụi hay cây thân gỗ còn chủ yếu là cây thân thảo hay dây leo. Một trong các đặc trưng đáng chú ý của bộ bầu bí (Cucurbitales) là hoa đơn tính, phần lớn là 5 cánh, với các cánh hoa nhọn và dày [1].
Thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng, nhưng cũng có thể nhờ gió như các họ Coriariaceae và Datiscaceae. Bộ này có khoảng 2.300 loài trong 7 họ và 129 chi.