MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cam (Citrus sinensis Osbeck) là một loại quả á nhiệt đới và nhiệt đới có giá trị cao trên thị trường quốc tế và ở Việt Nam cây cam đã trở thành một cây trồng phổ biến trong các vườn cây ăn quả. Cam quýt là loại quả được nhiều người, nhiều quốc gia trên thế giới ưa chuộng và được bán rộng rãi trên thị trường, chúng đã trở thành loại quả có giá trị vô cùng to lớn trong lĩnh vực kinh tế và dinh dưỡng cho con người. Nghề trồng cam quýt ngày càng được quan tâm phát triển không chỉ về diện tích mà cả năng suất và chất lượng.
Trong nhiều năm qua cam quýt đã trở thành cây chủ lực kinh tế ở nhiều vùng, nhiều địa phương như: cam sành Bắc Quang( Hà Giang), cam sành Hàm Yên(Tuyên Quang), quýt vàng Bạch Thông (Bắc Kạn). Cam quýt là một trong những cây căn quả đặc sản lâu năm của Việt Nam bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90 mg/100g tươi, đạm là 0.9%, chất béo là 0.2mg/100g tươi, năng lượng 430 - 460cal/kg, canxi 26 - 40mg. Các axit hữu cơ 0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác cam có thể dùng ăn tươi, làm mứt, nước giải khát, chữa bệnh.
Bắc Quang là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Hà Giang, có điều kiện về đất đai, khí hậu phù hợp cho sự phát triển của cây cam sành. Hiện nay toàn huyện có trên 2.000 ha diện tích đất trồng cam, trong đó có 1.573 ha cam đang thời kỳ kinh doanh. Nhiều hộ nông dân có diện tích đất trồng cam lớn, có hộ trên 5 ha; và thu nhập từ 100 đến 150 triệu đồng/ năm. Tuy nhiên, hiện h 2 nay quy mô các trang trại cam ở Xã Vĩnh Hảo-Huyện Bắc Quang còn bón phân chưa khoa học, sử dụng nhiều phân khoáng nên ảnh hưởng đến chất lượng cam và tuổi thọ của cây.
Nông dân trồng cam địa phương chưa từng sử dụng phân hữu cơ khoáng bón cho cam, mà chủ yếu sử dụng phân hỗn hợp NPK khoáng bón cho cây, một số loại phân NPK khoáng khó tan nên khi bón cho cam nhiều năm liên tục tích tụ dẫn đến ảnh hưởng đến rễ cây. Cây cam phát triển kém nhiều sâu bệnh dẫn đến chất lượng quả giảm. Phân hữu cơ khoáng là hỗn hợp bao gồm phân hữu cơ và các chất dinh dưỡng khoáng. Sử dụng phân HCK bón cho cây có tác dụng vừa cung cấp dinh dưỡng hữu cơ và dinh dưỡng vô cơ.
Sử dụng phân hữu cơ khoáng hợp lý giúp cây trồng phát triển cân đối, giảm lượng phân hóa học, cải thiện kết cấu đất dẫn đến tuổi thọ cây và chất lượng cam tăng so với việc bón phân hóa học. Phân NTR1 và phân NTR2 là phân hữu cơ khoáng của trường Đại học Nông Lâm- Đại học Thái Nguyên. Phân NTR1 có hàm lượng lân cao nên dùng chuyên bón lót, còn phân NTR2 có hàm lượng đạm và kali cao chuyên dùng bón thúc. Bón kết hợp phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 cho cây ăn quả nói chung và cho cây cam sành nói riêng theo lý thuyết không cần sử dụng thêm các loại phân hữu cơ, phân đạm và phân lân vô cơ, mả chỉ sử dụng thêm phân kali ở giai đoạn quả vào đường để tăng độ ngọt.
Phân NTR1,NTR2 đã nghiên cứu sử dụng cho nhiều loại cây trồng nhưng chưa nghiên cứu sử dụng cho cây cam. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành thí nghiệm đánh giá hiệu lực 02 loại phân bón trên để tìm ra liều lượng phân bón thích hợp nhất đối với cây cam sành. Xuất phát từ những yêu cầu trên cho chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 đến cây cam sành trồng tại huyện Bắc Quang- Hà Giang” h 3 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Xác định liều lượng phân NTR1, NTR2 thích hợp cho cây cam sành để đạt hiệu quả kinh tế cao ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang .Yêu cầu của đề tài -Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sự sinh trưởng, phát triển của cây cam sành và hiệu quả kinh tế cây cam sành ở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của phân NTR1, NTR2 đối với cây cam sành ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang để mở rộng diện tích cam sành sử dụng 02 loại phân bón này.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được tình hình sản xuất, đặc điểm sinh học của cây cam sành.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 để tăng năng suất cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây cam sành trồng tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài Trong nền kinh tế phát triển hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam đang được đầu tư với hướng đi đúng đắn và rõ rệt nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng, chi phí thấp, lợi nhuận cao. Song song với việc phát triển nông nghiệp là sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực phân bón, trong đó phân bón hữu cơ đã được nông dân sử dụng từ thuở ban sơ trong quá trình trồng trọt như dùng trực tiếp các loại phân gia súc, gia cầm, ủ cây, lá… Từ khi có phân hóa học ra đời nâng cao được năng suất thì vai trò phân hữu cơ giảm nhẹ, thậm chí lạm dụng phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp mà không cần sự hiện diện của phân hữu cơ nhưng việc sử dụng sai lầm này đã dẫn đến một nền nông nghiệp không bền vững, chi phí sản xuất tăng, sâu bệnh nhiều, năng suất không ổn định và đặc biệt chất lượng nông sản thấp, giá thành giảm mạnh.Chất hữu cơ đối với cây ăn quả thì không thể thiếu.
Cam là một trong những loại cây ăn quả được trồng phổ biến ở nước ta. Với năng suất 20 tấn cam lấy đi từ đất 34 kg N; 10 kg P2O5; 64 kg K2O. Tính trung bình 1 tấn quả cây lấy từ đất 1,7 kg N; 0,5 kg P2O5; 3,5 kg K2O. Kali là yếu tố cam lấy từ đất nhiều nhất.
Vì vậy, bón Kali có thể làm tăng năng suất 10- 46%, hệ số lãi do bón phân cân đối cho cam có thể đạt đến 4,5- 5,0. Cân đối giữa phân hữu cơ và phân vô cơ làm cho năng suất cam tăng 30- 50%. Cân đối đạm- kali, ngoài tác dụng làm tăng năng suất còn làm tăng chất lượng quả cam, như tăng hàm lượng đường và giảm lượng axit. Cam quýt là cây ăn quả lâu năm, cho nên hàng năm cần được bón phân và lượng phân thay đổi theo tuổi cây(Trần Thế Tục 1980).
h 5 Dựa vào đặc điểm sinh lý và ra hoa của cam, ta có thể chia thời gian sinh trưởng của cây thành 2 thời kỳ để bón phân. Thời kỳ cam quýt dưới 7 tuổi Thời kỳ này cây phát triển thân, cành là chính.Vào những năm cuối thời kỳ cây đã cho quả nhưng chỉ là những mùa quả đầu tiên, năng suất quả của cây tăng dần qua các năm.Ở thời kỳ này đề nghị bón phân cho cam quýt với lượng như bảng 2.1 như sau: Bảng 2.1: Lượng phân cho cam quýt thời kỳ cây dưới 7 tuổi Loại phân 1-2 năm tuổi 4-5 năm tuổi 6-7 năm tuổi Phân chuồng 25-30 35-40 45-50 (kg/cây) Vôi bột (kg/cây) 0,5 0,7-0,8 1,0 N (g/ cây) 80-150 200-250 300-400 P2O5 (g/cây) 100-150 150-200 250-300 K2O (g/cây) 100-150 150-250 300-400 Nguồn: Nguyễn Văn Kế - ĐHNN TP Hồ Chí Minh Thời kỳ cam quýt trên 7 tuổi Thời kỳ cam cho quả ổn định (sau năm thứ 7). Ở thời kỳ này năng suất của cam dần ổn định. Những thay đổi về năng suất chịu tác động chủ yếu của các yếu tố bên ngoài (thời tiết, sâu bệnh, kỹ thuật chăm bón,…).Ở thời kỳ này lượng phân bón được thay đổi tùy thuộc vào năng suất.
Lượng phân bón được khuyến nghị như ở bảng 2.2: Lượng phân cho cam quýt theo sản lượng Loại phân Năng suất> 15 tấn/ha Năng suất> 8 tấn/ ha N (kg/tấn quả) 7-8 11-12 P2O5 (kg/tấn quả) 7-8 11-12 K2O (kg/tấn quả) 8-10 10-12 N (kg/tấn quả) 7-8 11-12 Nguồn: Nguyễn Văn Kế - ĐHNN TP Hồ Chí Minh h 6 Phân hữu cơ khoáng có thành hành phần các chất dinh dưỡng chính như sau: Phân NTR1 có hàm lượng (%) N:P:K= 2,5:5,5:2 và hữu cơ 25%, phân NTR2 có N:P:K = 5,5:2:4 và hữu cơ 25%. Phân NTR1 có hàm lượng lân cao nên dùng bón lót, phân NTR2 có hàm lượng N và Kali cao nên dùng bón thúc cho cây trồng Từ cơ sở khoa học nêu trên, trong thí nghiệm thực hiện trên cây cam sành 6 năm tuổi chúng tôi thiết kế công thức phân bón: bón lót phân NTR1 3 kg/cây/năm và phân NTR2 giao động từ 8-10 kg/cây/năm.Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội có liên quan đến đề tài 2.Điều kiện tự nhiên 2.Vị trí địa lý Vùng sản suất cam của tỉnh Hà Giang được trồng tập trung tại 3 huyện Bắc Quang, Vị Xuyên và Quang Bình (Vĩnh Hảo, Việt Hồng, Tiên Kiều, Vĩnh Phúc,Đông Thành- huyện Bắc Quang; xã Trung Thành, Việt Lâm, Quảng Ngần, Bạch Ngọc, Ngọc Linh, Linh Hồ -huyện Vị Xuyên; Vĩ Thượng, Tiên Yên, Hương Sơn, Yên Hà, Xuân Giang, Bằng Lang, Tân Trịnh, Tân Bắc, Yên Bình- huyện Quang Bình). Phía Đông giáp huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp huyện Quang Bình, Phía Nam giáp huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái và phía Bắc giáp huyên Vị Xuyên cùng tỉnh Hà Giang. Vùng sản xuất tập trung có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi đó là nằm trên quốc lộ 2 cách thành phố Hà Giang 60km.
Trên địa bàn huyện có 2 quốc lộ là tuyến giao thông huyết mạch trong trục trung chuyển giữa vùng kinh tế Tây Nam của Trung Quốc và các tỉnh phía bắc Việt Nam, thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế xã hội trong vùng sản xuất cam tập trung. Bắc Quang có tài nguyên rừng rất lớn tính cả diện tích đất đồi núi chưa sử dụng và có khả năng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp thì huyện có khoảng 85.200ha, chiếm 78% diện tích đất tự nhiên. Trong đó rừng sản xuất h 7 có 57. Diện tích đất nông nghiệp của vùng sản xuất cam tập trung là trên 5895 ha.
Khí hậu Đây là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa.