MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia sinensis (L) O kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Phi. Ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển thì cây chè được trồng ở hơn 60 nước trên Thế giới, trong đó có Việt Nam (Đỗ Ngọc Quỹ và cs,1997). Chè có giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng.
Hầu hết các bộ phận của cây chè như búp, lá, nụ, hoa….không những là nguyên liệu chính dùng để chế biến các loại sản phẩm uống giải khát, thanh nhiệt mà còn có nhiều tác dụng như là 1 vị thuốc trong y học. Nước chè có tác dụng bổ dưỡng, chống được lạnh, làm giảm sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn. Sở thích thưởng trà từ lâu đã trở thành thú vui thanh tao, quý phái và là nét đẹp văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc trên Thế giới. Thói quen uống trà ngày càng phổ biến ở nhiều lứa tuổi và nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngoài vai trò là thức uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu, việc trồng chè còn có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn mền núi. Việt Nam được xem là một trong những quê hương của cây chè và sản phẩm chè từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm của nước ta. Năm 2011, diện tích chè Việt Nam là 114.800 ha, đứng thứ 5 trên thế giới, sản lượng đạt 206. Nước ta là một trong những nước có tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất chè, nhất là ở địa bàn miền núi và trung du.
Cây chè được n 2 trồng ở Việt Nam từ lâu đời (4000 năm), hiện nay đã được phát triển ở 34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Cây chè ở Việt Nam cho năng suất, chất lượng tương đối ổn định và và có giá trị kinh tế. Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước. Cây chè được coi là cây mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du và miền núi.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, điều kiện đất đai và thời tiết khá thích hợp cho việc phát triển cây chè. Toàn tỉnh hiện có 18.138 ha chè, năng suất búp tươi bình quân đạt 108,73 tạ/ha, sản lượng gần 181. So với các huyện trong tỉnh, thành phố Thái Nguyên có diện tích chè khá lớn được phân bố chủ yếu ở các xã phía Tây, với các vùng trọng điểm là các xã: Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Thịnh Đức. Hiện nay, cây chè Thái Nguyên trở thành một trong những cây chè mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh.
Cây chè có khả năng hút dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó. Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp, cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho chè cần tiến hành thường xuyên trong năm. Vùng chuyên canh cây chè, có trình độ thâm canh cao đòi hỏi năng suất lớn thì lượng phân bón cần thiết phải bón hàng năm là rất nhiều. Chính vì vậy, việc bón phân vô cơ cho chè là rất cần thiết.
Phân vô cơ giúp bổ sung cho chè những chất dinh dưỡng cần thiết mà cây chè cần để sinh trưởng và phát triển, từ đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè. Từ những thực tiễn trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến sinh trưởng và phát triển của giống chè LDP1 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Mục đích nghiên cứu Xác định được lượng phân đạm thích hợp đối với cây chè LDP1 thời kỳ KTCB. Yêu cầu của đề tài Xác định lượng phân đạm ảnh hưởng đến đặc điểm hình thái giống chè LDP1 thời kỳ KTCB.
Xác định ảnh hưởng của lượng phân đạm tới sự sinh trưởng giống chè LDP1. Xác định ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất, chất lượng giống chè LDP1 thời kỳ KTCB. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc.
Đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường và hoạt động thực tiễn. - Có kết luận chính xác lượng phân đạm thích hợp cho chè LDP1 thời kỳ KTCB. - Đề tài là một tài liệu tham khảo cho người trồng chè và sinh viên khóa tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề tài là cơ sở cho những định hướng sử dụng phân bón thích hợp cho cây chè vào thực tiễn sản xuất.
Từ đó, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, cũng như góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè tại trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên. n 4 PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học của đề tài Giống LDP1 là giống chè được chọn lọc từ hạt hữu tính năm 1981 tại Phú Hộ, với mẹ là đại bạch trà (giống chè Trung quốc có chất lượng tốt) và bố là giống PH1 giống có năng suất cao.
Giống do Viện nghiên cứu chè lai tạo, được công nhận giống quốc gia năm 2002. Cây chè LDP1 sinh trưởng khỏe, phân cành thấp, mật độ cành dày, mật độ búp rất dày, sớm cho năng suất cao. Tán rộng, mật độ cành đều đặn, búp to trung bình. Nếu trồng, chăm sóc và đốn tạo hình hợp lý thì chè 3 tuổi có thể khép tán.
Giống có khả năng cho năng suất cao. Chè 3-4 tuổi có thể đạt 5-7 tấn búp/ha. Giống chè LDP1 có hàm lượng tannin 31,76%, chất hòa tan 42,61%, hàm lượng cafein tổng số 139,23mg/g chất khô. Nguyên liệu dùng chế biến chè xanh, chè đen cho chất lượng khá.
Cơ sở thực tiễn Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất. Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống. Khi xây dựng quy trình bón phân cho chè cần căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, đặc điểm sinh lý của cây và khả năng cho năng suất của nương chè. Đối tượng thu hoạch chè là búp non.
Mỗi năm thu hoạch từ 5- 10 tấn/ha; vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không kịp bổ xung cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp. n 5 Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2- 2,5% K2O. Ngoài ra cần chú ý rằng: Hằng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng với trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch. Theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất.
Chè cần nhiều đạm nhất sau đó đến lân và kali. Theo IFA World fertilizer use manual 1992 thì dinh dưỡng tạo ra 100kg chè thương phẩm như bảng sau: Lƣợng phân cần STT Tên phân tạo ra 100kg sản phẩm 1 Đạm(N) 19,6kg 2 Lân (P2O5) 5,68kg 3 Kali (K2O) 8,8kg 4 Magie (MgO) 2,92kg 5 Canxi (CaO) 6,70kg 6 Nhôm (Al) 871g Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài. Vai trò của phân bón đến năng suất và chất lượng cây chè Bón phân cho chè là biện pháp kỹ thuật quan trọng giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt, làm tăng năng suất và chất lượng chè. Cây chè có khả năng hút dinh dưỡng liên tục trong đời sống của cây.
Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp, khô hạn, cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định. Vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho chè phải tiến hành thường xuyên trong năm. Chè là cây trồng cho thu hoạch sản phẩm là búp chè. Trong búp non của chè có 4,5%N; 1,5%P2O5 ;và 1-2,5% K2O (theo Eden 1958) mà hàng năm n 6 chúng ta hái đi từ 5-10 lần búp tươi và đốn đi một lượng thân lá đáng kể vì thế ta đã lấy đi từ cây một lượng N, P, K và các chất khác.
Hơn nữa hàng năm cũng có một lượng dinh dưỡng bị xói mòn rửa trôi vì thế chúng ta cần xây dựng một chế độ bón phân hợp lý cho chè. Trong chè đạm tập trung ở các bộ phận còn non như lá non và búp. Nếu bón đủ đạm cho chè thì lá có màu xanh, quang hợp tốt. Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980), khi bón quá đạm cho chè thì làm cho hàm lượng tannin, cyenin giảm và protein tăng.
Các tài liệu của Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng nếu bón N.K không cân đối thì cây chè sẽ cho năng suất và chất lượng thấp. Bón phân khoáng quá mức dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây, sâu bênh phát sinh phát triển nhiều, năng suất chất lượng giảm. Đồng thời với các vùng trồng chè chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng các phân khoáng như: Ure, Kali clorua,…Với phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước. Các kết quả nghiên cứu cho thấy chất dinh dưỡng được hoàn trả cho đất thấp hơn nhiều so với lượng chất dinh dưỡng mà nông sản và sản phẩm phụ đã lấy đi và không cân đối giữa tỷ lệ N:P2O5:K2O.
Để đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững phải tăng sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và hữu cơ, sử dụng hợp lý với điều kiện hiện nay. * Hàm lượng N; P2O5; K2O - Hàm lượng N: Trong chè tập trung ở các bộ phận còn non như: búp và lá non, N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein.