MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khoai lang (Ipomoea batatas.L) là một loại cây có địa bàn phân bố rộng, thích ứng các điều kiện nhiều vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là các vùng nhiệt đới và ôn đới, tập chung ở nhiều Châu lục trong đó Châu Á cũng được trồng nhiều ở một số nước như (Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Philipines, India) là những nước sản xuất khoai lang chống tình trạng suy dinh dưỡng. Đồng thời khoai lang cũng là cây thức ăn gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra khoai lang còn là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để chế biến thức ăn cho gia súc, bánh kẹo….
Lợi ích của việc trồng khoai lang là cây dễ trồng, phù hợp với nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, phù hợp khả năng kinh tế với nhiều hộ nông dân nghèo, thiếu lao động, tận dụng đất. Khoai lang đạt năng suất cao và lợi nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và đúng quy trình canh tác. Khoai lang được nông dân trồng nhiều vì có khả năng sử dụng tốt các loại chân đất cho năng suất cao và ổn định. Thành phần củ khoai lang tươi chứa 68% nước, 0,8% protit, 28,5% gluxit, 34 mg canxi, 50 mg phốt-pho, 23 mg vitamin C.
Thành phần khoai lang khô: 11% nước, 2,2% protit, 80% gluxit. Những nghiên cứu gần đây cho biết, giống khoai lang tím có polyphennol chứa anthocyamin có tác dụng khoáng ô xy hóa rất mạnh, có khả năng kiềm chế đột biến của tế bào ung thư, hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh tim mạch, có công năng làm đẹp. Cây khoai lang có sắc tố có thể bào chế chất nhuộm màu thực phẩm thiên nhiên thay sắc tố tổng hợp nhân tạo. Khoai lang có chứa nhiều loại vitamin A, B, C, E và các khoáng chất K, Ca, Mg, Fe, Se… giàu chất xơ thực phẩm.
Tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc đã đánh giá khoai lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất của thế kỉ 21, đang được thị trường thế giới rất ưa chuộng. Khoai lang có rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, vị ngọt có thể sử dụng củ để ăn tươi, thái lát phơi khô, chế biến tinh bột dùng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi, thân lá có thể làm rau xanh. Ngoài ra khoai lang có thể chế biến các sản phẩm tinh bột biến tính, các sản phẩm hóa công, các sản phẩm lên men thủy phần được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp thực n 2 phẩm, dệt, giấy, vật liệu xây dựng, cao su nhân tạo…. Hiệu suất sản xuất ethanol sinh học từ cây khoai lang cao hơn hẳn mía đường, cao lương, ngô, sắn, và khoai tây.
Khoai lang rất dễ trồng, nhân giống bằng dây, ít bị sâu, bệnh. Với những ưu việt như vậy, nên cây khoai lang ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm để đưa cây khoai lang trở thành cây trồng chính trong nền sản xuất nông nghiệp. Vùng Trung Du và miền núi phía Bắc là vùng có tiềm năng lớn về phát triển nông lâm nghiệp. Trong những năm qua, nông lâm nghiệp của vùng có nhiều thay đổi nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển của nhà nước và địa phương.
Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ dân trí, điều kiện địa lý, giao thông và tập quán canh tác lạc hậu… nên vùng Trung Du và miền núi phía Bắc vẫn là vùng chậm phát triển (Tây Bắc: 33%, Đông Bắc: 21%). Hiện nay, vùng đang phải tập trung giải quyết nhiều lĩnh vực trong phát triển kinh tế như: Vấn đề an toàn lương thực và bảo tồn phát triển nguồn tài nguyên về đa dạng sinh học. Giải quyết vấn đề trên cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó việc phát triển cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và trình độ canh tác của người dân nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập được ưu tiên hàng đầu. Cây khoai lang từ lâu đã gắn liền với những người nông dân nghèo ở vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Đặc biệt từ xưa người dân đã đánh giá cây khoai lang có khả năng thích ứng rộng, kỹ thuật trồng đơn giản, có thể phát triển tốt trong vụ đông và vụ xuân. Tuy nhiên để cây khoai lang đạt năng suất cao, chất lượng tốt cần phải đánh giá, lựa chọn được lượng phân bón cho giống khoai lang mới cũng như quy trình kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện từng tiểu vùng sinh thái. Hiện nay, tuy diện tích trồng khoai lang của vùng Trung Du và miền núi phía Bắc đứng thứ 2 trong 6 vùng trồng khoai của cả nước (37.700 ha), nhưng vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ tiêu dùng tại chỗ. Năng suất khoai lang của vùng rất thấp (đạt 66,5 tạ/ha, đứng thứ 5/6 vùng), bằng 71% năng suất bình quân của cả nước, bằng 30,3% năng suất của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là những thách thức lớn trong phát triển khoai lang. n 3 Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng: Năng suất khoai lang thấp chủ yếu là do chưa có chế độ dinh dưỡng phù hợp với điều kiện sinh thái và cơ cấu mùa vụ của từng địa phương, các biện pháp thâm canh tổng hợp chưa được chú trọng đúng mức. Vậy để tăng được năng suất và sản lượng khoai lang các tỉnh miền núi phía Bắc ngoài việc đánh giá các yếu tố kinh tế xã hội, thị trường để quy hoạch thì cần phải xác định được mức phân bón phù hợp, với điều kiện sinh thái của từng địa phương và tiến hành đồng bộ các khâu kỹ thuật then chốt như: Phân bón, thời vụ, mật độ trồng… cho từng nhóm giống theo mục đích sử dụng nhằm tăng thu nhập và hiệu quả kinh tế của cây khoai lang. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của khoai lang Hoàng Long vụ Xuân 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Nghiên cứu tìm ra được tổ hợp phân bón thích hợp với sự sinh trưởng phát triển và năng suất của khoai lang Hoàng Long vụ Xuân 2014 trồng tại Thái Nguyên. Yêu cầu - Theo dõi đặc điểm sinh trưởng, phát triển của khoai lang trên các công thức thí nghiệm. - Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các công thức.
- Tình hình sâu bệnh hại. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp với năng xuất khoai lang Hoàng Long vụ Xuân 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đánh giá hiệu quả kinh tế từ các tổ hợp phân bón này từ đó có thể khuyễn cáo cho bà con nông dân sản xuất.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Qua kết quả nghiên cứu xác định được công thức bón phân phù hợp với sản xuất khoai lang tại Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón. Từ đó khuyến cáo ra sản xuất. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, lịch sử và giá trị sử dụng của cây khoai lang.
Nguồn gốc, phân bố và phân loại khoai lang Khoai lang (Ipomoea batatas (L) lam ) là một loại cây thân bò thuộc Họ bìm bìm (Convolvulaseae). Chi khoai lang (Ipomoea) là Chi thực vật lớn nhất trong họ bìm bìm (Convolvuaceae) với khoảng 500 loài thuộc thân thảo, cây bụi hoặc dây leo. Các loài quan trọng trong Chi khoai lang Ipomoea gồm có: - Khoai lang (Ipomoea batatas). Khoai lang là cây hai lá mầm thuộc chi Ipomoea, họ Convolvuaceae, Purseglove J.
Trong số 50 chi và hơn 1000 loài thuộc họ này thì Ipomoea batatas là loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng, được sử dụng làm lương thực và thực phẩm. Số lượng loài trong chi Ipomoea đã được xác định là hơn 400 loài, nhưng Ipomea batatas là một loài cây trồng không tìm thấy ở dạng hoang dại. Nhiều nhà khoa học cho rằng khoai lang được thuần hóa từ hơn 5000 năm trước. Nguồn gốc của khoai lang còn chưa được thống nhất.
Tuy nhiên các cứ liệu khảo cổ, ngôn ngữ học và lịch sử học đã cho phép xác định nguồn gốc khoai lang là ở vùng Trung Mỹ hoặc Nam Mỹ. Nghiên cứu của Obrien, 1972 (dẫn theo Nguyễn Viết Hưng và CS, 2010 [5]) cũng khẳng định: Trung tâm chính xác khởi nguyên của khoai lang là Trung hoặc Nam Mỹ.F, cho rằng khoai lang có nguồn gốc ở phía Bắc là quần đảo Yucatan và phía Nam là sông Orinoco với các trung tâm thứ cấp có sự đa dạng cao ở Guatemala và Nam Peru. Khi nghiên cứu về sự biến động ở Ipomoea batatas đã chỉ ra vùng có sự đa dạng cao bao gồm Colombia, Equador và Bắc Peru. Khoai lang có nguồn gốc nguyên thủy từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ.
Hầu hết các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang (Trung hoặc Nam Mỹ). n 6 Theo Engel (1970) từ những mẫu khoai lang khô thu được tại hang động Chilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8000 đến 10. Một bằng chứng nữa của các nhà khảo cổ học về cây khoai lang đã được phát hiện tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2000 năm trước công nguyên (Ugent và Poroski 1983). Bằng chứng về ngôn ngữ học cho thấy sự xuất hiện của cây khoai lang tại vùng Mayan của Trung Mỹ khoảng giữa 2600 đến 1000 năm trước công nguyên (Austin, 1977).
Vì vậy khoai lang được coi là nguồn lương thực quan trọng của người Mayan ở Trung Mỹ và người Péruvian ở vùng núi Andet (Nam Mỹ). Theo quan điểm của OBrien (1972) và ý kiến của Yen (1982) trung tâm chính xác khởi nguyên của khoai lang là Trung hoặc Nạm Mỹ. Nhưng cây khoai lang thực sự lan rộng ở Châu Mỹ khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới, Nguyễn Viết Hưng và CS (2010) [5]. - Phân loại Khoai lang (Ipomoea (L) Lam) là cây hai lá mầm, thuộc Chi Ipomoea, họ bìm bìm Convolvulaceae.
Trong số hơn 1000 loài thuộc họ Convolvulaceae thì loài Ipomoea batatas được trồng và sử dụng làm lương thực và thực phẩm trên khắp thế giới, Võ Văn Chi và CS (1998) [2]. Các giống khoai lang trồng phổ biến hiện nay là thuộc loài Ipomoea batatas, thuộc thể lục bội có bộ nhiễm sắc thể 2n = 6X = 90, với bộ nhiễm sắc thể cơ bản là X = 15, Mai Thạch Hoành (2004) [6]. Cây khoai lang tuy có nguồn gốc ở Châu Mỹ, nhưng chúng chỉ thực sự lan rộng ở Châu lục này khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới.