Đặt vấn đề Cây rau dại đã được con người biết đến và sử dụng từ xa xưa. Với các loài cây cỏ sẵn có trong tự nhiên, bằng những kinh nghiệm được truyền từ đời này qua đời khác, con người đã để lại cho hiện tại 1 kho tàng, kinh nghiệm sử dụng, chế biến cây rau cỏ dại hết sức đa dạng. Đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ và thiếu thốn, cây rau mọc hoang dại đã góp phần quan trọng trong bữa ăn của bộ đội và nhân dân. Rau rừng đã bổ sung một lượng dinh dưỡng cần thiết cho sức khoẻ của mọi người để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và công tác.
Ngày nay, tuy là thời bình, cây rau mọc hoang dại vẫn đóng vai trò quan trọng về dinh dưỡng cũng như làm thuốc phòng chữa bệnh đối với mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là ở những nơi vùng núi rừng, vùng cao, vùng sâu, vùng xa có khí hậu khắc nghiệt. Cây rau xanh là thành phần quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta. Những câu nói “Cơm không rau như đau không thuốc” hoặc “Đói ăn rau, đau uống thuốc” đã được khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của rau trong bữa ăn và trong đời sống con người (Nguyễn Tiến Bân và cộng sự, 1994) [1]. Là nguồn tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi.
Cây rau rừng không chỉ cung cấp thực phẩm, dược liệu mà còn có giá trị về kinh tế, có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học. Do vậy, để có cơ sở khoa học phát triển giống cây rau tàu bay, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời bảo tồn cây dược liệu quý đang ngày càng cạn kiệt trong tự nhiên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh h 2 hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây rau Tàu bay (Crassocephalum crepidioides) tại vườn ươm mô hình thực nghiệm khoa Lâm nghiệp” là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được sự ảnh hưởng một số loại phân bón đến sự sinh trưởng của cây rau Tàu bay, từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác làm nghiên cứu và nhân rộng giống cây dược liệu quý. Ý nghĩa của việc nghiên cứu - Ý nghĩa khoa học Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế.
Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm. Nâng cao kiến thức thực tế. Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. - Ý nghĩa thực tiễn Xác định được ảnh hưởng của việc bón phân đến sinh trưởng,phát triển của cây rau sắng.
Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chínhxác. Đề xuất một số giải pháp kiến nghị về phương pháp, cách thức bón phân. Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trường. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Rau tàu bay loài cỏ dại mọc hoang hóa khắp nơi, tưởng chừng chỉ là một loài cỏ vô chi nhưng thực tế loài cây này không chỉ là một vị thuốc, chúng ta còn có thể sử dụng cây tàu bay hàng ngày như một loại rau sạch. Rau tàu bay còn được gọi là cây kim thất. Cái tên rau Tàu bay không biết có từ khi nào nhưng chắc chắn rằng nó bắt nguồn từ những năm kháng chiến oanh liệt của quân và dân ta. Theo một số cựu chiến binh chúng tôi được biết, trong chiến tranh kháng chiến chống mỹ bộ đội ta thường phải ẩn nấp trong các tán rừng dài ngày.
Lương thực thiếu thốn, rau khan hiếm nên phải hái rau rừng làm thực phẩm, trong đó loài rau phổ biến nhất là cây kim thất. Phải đối mặt với máy bay Mỹ nén bom, ăn rau rừng nên các chiến sỹ mới gọi đây là rau Tàu bay (Lê Khả Kế và cộng sự 1969 – 1976)[7]. Rau rừng có vai trò và giá trị rất lớn đối với đời sống của con người, việc phát triển cây rau rừng , an toàn đáp ứng nhu cầu của con người ngày càng khó khăn đặc biệt là các loài rau rừng có nguồn gốc từ tự nhiên. Nghiên cứu về cây rau rừng trên thế giới – Việt Nam 2.
Trên thế giới Từ xa xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây rau cỏ để làm thức ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh, những cây rau cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm, có thể làm thuốc chữa bệnh và được truyền tụng từ đời này qua đời khác. Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú. Theo Farmsworth et al., 1985 thì vào năm 1985 có khoảng 119 hợp chất hóa học chiết xuất từ thực vật bậc cao được sử dụng vào sản xuất thuốc trên h 4 toàn thế giới. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính là có 80% người dân ở các nước đang phát triển của thế giới hiện đang phụ thuộc vào các loại thuốc truyền thống để chữa bệnh và trong khoảng 85% các loại thuốc truyền thống đó có sử dụng các chiết xuất từ thực vật.
Rất nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu tìm các hợp chất mới từ thực vật như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Đức, Ấn Độ.Trong thực tế các nghiên cứu như vậy chỉ được bắt đầu từ thế kỷ 19 và công nghệ cũng phát triển rất mạnh mẽ từ đó. Tại trung tâm Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đã kiểm tra rất nhiều loài thực vật để tìm kiếm chất ung thư, rất nhiều loài đã chứng tỏ có hoạt 5 chất chống ung thư, một số hoạt chất đã được chiết xuất và nghiên cứu về cấu trúc để thử nghiệm chữa trị cho con người. Tại Hồng Kông vào năm 1981 với dân số gần 5,7 triệu người, Hồng Kông có ít nhất 346 người bán cây cỏ làm thuốc và 1477 cửa hàng bán thuốc từ các loại cây cỏ, trong khi đó có 3362 thầy thuốc có đăng ký và 375 hiệu thuốc. Hiệp hội các nhà thuốc Bắc ở đây có khoảng 5.
Có thể nói Hồng Kông là một thị trường đông dược lớn nhất thế giới, nhập khẩu vượt con số 190 triệu đô la Mỹ mỗi năm. Chỉ có khoảng 70% các loại sản phẩm thảo dược đó là được sử dụng tại chỗ, còn 30% lại được tái xuất. Theo tính toán thì mỗi năm người dân nơi đây tiêu thụ khoảng 25 đô la Mỹ cho thuốc Bắc. Đây mới chỉ là số liệu tính riêng cho Hồng Kông mà chưa hề đưa ra các số liệu cho cả Trung Quốc, một đất nước mà từ hàng nghìn năm qua người dân đã quen sử dụng thuốc dân tộc sản xuất từ thực vật để chữa bệnh.
Tại Nhật Bản hệ thống y học cổ truyền được gọi là Kampo là một dạng ứng dụng y học Trung Quốc. Thuốc dân tộc bao gồm các sản phẩm từ tự nhên, mà chủ yếu là các chiết xuất từ thực vật. Tổng chi phí cho các sản phẩm thuốc tại Nhật Bản là khoảng 8,3 tỉ đô la Mỹ trong năm 196, song các loại thuốc dân tộc chỉ chiếm 12,5 triệu đô la Mỹ. Vào năm 1984, tổng chi phí h 5 cho các loại thuốc đã lên tới 14,6 tỉ đô la Mỹ và chi phí cho thuốc dân tộc cũng tăng lên 150 triệu đô la Mỹ (Terasawa, 1986).
Tonga Noweg và cộng sự (2003) nghiên cứu những loài cây làm rau lấy từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phương. Wang Guang-Yin và cộng sự (2002) nghiên cứu về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, chỉ ra có tới 91họ, 226 chi và 415 loài. Phân bố địa lý, sự khai thác và cách thức sử dụng được chỉ rõ và 6 đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể ăn được, thời gian thu hái và sinh cảnh của chúng cũng đề cập tới. Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được thuộc trong 26 họ.
Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài) (Bùi Văn Tân, 2010)[11]. Ở Việt Nam Nước ta nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa các địa phương; lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều theo vùng lãnh thổ và trong năm. Nhờ có yếu tố về địa hình và khí hậu đa dạng, do vậy nước ta có thảm thực vật phong phú và nguồn cây rau rừng để ăn và làm thuốc dồi dào. Bảo tồn và phát triển nguồn gien, giống cây rau rừng làm thuốc là một việc làm cần thiết góp phần tăng nguồn lực chăm sóc sức khỏe nhân dân (Đỗ Tất Lợi, 1995)[8].
h 6 Các nhà khoa học đã phát hiện ở nước ta có 3.948 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc, thuộc 307 họ của chín ngành và nhóm thực vật khác nhau. Trong đó có 52 loài tảo biển, 22 loài nấm, bốn loài rêu và 3.870 loài thực vật bậc cao. Mỗi loài lại có bộ gien đa dạng riêng của mình. Ðiều này làm cho kho tàng nguồn gien cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và phân tử (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2004)[2].
Theo sổ sách ghi chép, rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ X. Lê Quý Đôn (1721-1783) đã tổng kết vùng phân bố rau. Cho đến nay, nước ta có khoảng 70 loài thực vật đã sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau. Hơn 30 loài trong đó có 15 loài rau chủ lực, hơn 80% là rau ăn lá.
Theo kết quả nghiên cứu của Võ Văn Chi (1983), hiện có 145 loài dùng để làm rau thuộc 61 họ thực vật, trong đó 10 họ có số cây được dùng làm rau ăn nhiều nhất. Đứng đầu là họ Đậu, tiếp đến là họ Cúc, họ Bầu bí, họ Ráy, họ Dền.