MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng là tài nguyên quý giá của con người. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật.
Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,. Tuy nhiên trong những năm qua rừng nước ta lại nằm trong tình trạng suy giảm về số lượng và chất lượng rừng, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Theo số liệu điều tra của Viện điều tra, quy hoạch rừng – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 1945, diện tích rừng tự nhiên nước ta là 14 triệu ha, tương đương với độ che phủ 43%. Đến năm 1990, diện tích rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn 9,175 triệu ha, tương đương độ che phủ 27,2%.
Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng này là do chiến tranh, quản lý rừng chưa bền vững, đốt nương làm rẫy, khai thác bừa bãi… Từ khi Chính phủ có chỉ thị 268/Ttg (1996) cấm khai thác rừng tự nhiên nên tốc độ phục hồi rừng đã khả quan hơn. Đến năm 2003, tổng diện tích rừng tự nhiên của nước ta là 12 triệu ha với độ che phủ 36,1%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10 triệu ha, rừng trồng là 2 triệu ha. Vừa h 2 qua Bộ NN&PTNT vừa ra quyết định 3158/QĐ-BNN-TCLN về công bố hiện trạng rừng Việt Nam. Theo đó, tính đến ngày 31/12/2015, diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là hơn 13,520 triệu ha (độ che phủ đạt 40,84%).
Theo công bố hiện trạng rừng mới nhất này, diện tích rừng hiện có của nước ta là gần 14,062 triệu ha. Trong đó, rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu ha, rừng trồng là hơn 3,886 triệu ha. Diện tích cây lâm nghiệp đạt 13,614 triệu ha với độ che phủ là 39,5%, còn diện tích cây lâu năm (cao su, cây đặc sản) trồng trên đất lâm nghiệp là 448.800 ha, độ che phủ 1,34%. Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là 13.984 ha với độ che phủ là 40,84%.
[34] Để trồng rừng thành công, đạt hiệu quả cao một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đó là giống cây trồng. Trong lâm nghiệp diện tích kinh doanh trồng rừng lớn, lực lượng lao động ít, cây có đời sống dài ngày, do vậy việc tác động giống vào hoàn cảnh chỉ có thể thực hiện tốt vào giai đoạn vườn ươm và 2 – 3 năm đầu, sau khi trồng, ít có điều kiện chăm sóc đến khi khai thác như cây trồng nông nghiệp ngắn ngày nên vai trò của giống lại càng quan trọng. Tuy chọn giống có vai trò rất quan trọng song nếu không áp dụng các biện pháp kĩ thuật thích đáng thì giống có tốt đến đâu cũng không thể cho năng suất cao [22]. Loài Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) là một cây bản địa có vai trò quan trọng trong công tác phục hồi rừng.
Loài có khu phân bố hẹp, ở Việt Nam chỉ mới gặp ở miền Bắc tại tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Ninh Bình. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị sử dụng, giá trị thương mại, giá trị cảnh quan. Tuy nhiên cây thường bị khai thác nhiều nên trở thành khan hiếm và cạn kiệt nên có vai trò quan trọng trong bảo tồn nguồn gen, đặc biệt trong bảo tồn nguồn gen cây đinh quý hiếm. Hiện loài cây này đang có tên trong sách đỏ Việt Nam.
Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây Kim giao núi đất (Nageia wallichiana). Để bảo tồn loài cây này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về khả năng sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm [36]. h 3 Trong sản xuất cây con trong giai đoạn vườn ươm có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây, trong đó có hỗn hợp ruột bầu.
Ruột bầu là nơi cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho cây con trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn, tuy nhiên mỗi loài cây phù hợp với thành phần ruột bầu khác nhau. Thực tế chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến cây Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) tại Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng. Xuất phát từ vấn đề trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây con Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Xác định được công thức phân bón có ảnh hưởng tốt nhất tới sinh trưởng về chiều cao (Hvn), đường kính cổ rễ (D00) và động thái ra lá của cây con Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) trong giai đoạn vườn ươm.
Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cây, khả năng nhân giống cây Kim giao núi đất (Nageia wallichiana), cung cấp thông tin phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng của Việt Nam. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành để phục vụ tốt hơn cho công tác phát triển ngành lâm nghiệp nói chung, góp phần bảo tồn loài Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) nói riêng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Kim giao núi đất (Nageia wallichiana). - Tìm hiểu đánh giá các phương pháp gây giống trong vườn ươm để thực hiện trong thực tế sản xuất.
h 4 * Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: - Thành công của đề tài sẽ có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện sản xuất. Qua đó ta tìm được công thức phân bón thích hợp cũng như tỷ lệ phân cho sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm. Đồng thời có thể áp dụng kiến thức này để cho người làm rừng cùng áp dụng. - Giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, áp dụng lý thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân vào phát triển sản xuất, học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một cách khoa học.
- Đề xuất xây dựng những biện pháp tạo giống cây con ở giai đoạn vườn ươm, tạo giống chất lượng tốt. h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Sinh trưởng và phát triển của cây rừng luôn chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố khác nhau trong hệ sinh thái,trong đó một số nhân tố giữa vai trò lớn hơn những nhân tố khác ảnh hưởng tới từng loài sinh vật khác nhau. Trong điều kiện vườn ươm, mọi nhân tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây con đều được con người chủ động như về phân bón, chế độ nước tưới, ánh sáng, thành phần hỗn hợp ruột bầu.
Trong nhân giống các loài cây gỗ, Nguyễn Văn Sở, 2004 [14], thành phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng cây con trong vườn ươm. Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khoẻ mạnh và nhanh. Một hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chất khoáng cũng không giúp cây phát triển tốt. Ngược lại, một hỗn hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoát nước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con.
Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu. Đất được chọn làm ruột bầu. Đất được chọn làm ruột bầu thịt nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại, (Vũ Thị Lan, 2007) [8], (Trương Thị Cẩm Nhung, 2010) [10]. Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống thực vật.
Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển sự vật. Phân bón là chất dùng để cũng cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây. Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên học được chế tạo trong công nghiệp. Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác h 6 động như nhau đối với sinh trưởng của cây,trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn.
Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt. Chế độ dinh dưỡng trong đất có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của thực vật. Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của cơ thể thực vật. Trong gieo ươm - Điều kiện đất đai: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay sấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước và không khí cho cây.
Đất được chọn làm ruột bầu: Đất được chọn làm ruột bầu thịt nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại. Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định.