MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây có múi (Citrus) là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao, có hương vị thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng. Cây cho quả sớm và có sản lượng cao, năm thứ ba sau trồng cây đã bắt đầu cho quả, những năm về sau năng suất tăng dần và thời gian kinh doanh kéo dài, nếu chăm sóc tốt cây có thể cho thu hoạch trên 50 năm. Cam quýt có nhiều giống chín sớm muộn khác nhau, nên có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường tới 6 tháng trong năm, mặt khác, quả chín đúng vào dịp Tết Nguyên Đán nên càng có giá trị.
Ngày nay đời sống xã hội đã được cải thiện thì nhu cầu con người ngày càng cao. Ngoài giá trị về mặt kinh tế, cây ăn quả còn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những giá trị dinh dưỡng cho con người. Quả tươi là một phần rất cần thiết trong bữa ăn của mỗi gia đình, tăng khẩu phần quả tươi trong mỗi bữa ăn là mức phấn đấu của nhiều nước có nền kinh tế phát triển. Đáp ứng đủ nhu cầu quả tươi trong mỗi bữa ăn hàng ngày là bảo đảm dinh dưỡng và an toàn cho mỗi người.
Cam sành là cây ăn quả quan trọng đã gắn với người nông dân tại huyện Lục Yên trong nhiều năm nay, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân. Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây diện tích cam sành đã giảm mạnh, năng suất thấp, chất lượng kém. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình sản xuất hiện nay, trong đó có nguyên nhân giống bị nhiễm một số bệnh nguy hiểm đặc biệt là bệnh greening, quá trình trồng chăm sóc chưa được người dân đầu tư đúng mức dẫn đến cây thiếu dinh dưỡng còi cọc, chất lượng quả kém. Nông dân chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là tiến bộ về kỹ thuật lai tạo, nhân giống cam, việc đầu tư chăm sóc còn nhiều hạn chế.
h 2 Ngoài ra, do đặc điểm của quả cam sành thường có nhiều hạt, đây chính là điều bất lợi cho sản phẩm cam Lục Yên vì rất khó khăn tham gia vào xuất khẩu thị trường thế giới. Do đó dù chất lượng khá cao nhưng giá bán cam sành thấp hơn giá bán các loại cam không hạt khác. Bên cạnh đó, do đặc điểm cam sành thường chín tập trung từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, nên giá cam thường hay rớt giá khi vào chính vụ. Chính vì vậy người dân tại đây rất cần một giống cam mới có thể trồng kết hợp với cây cam sành để rải vụ thu hoạch và có những hướng dẫn quy trình kỹ thuật cụ thể giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.
Trong thời gian qua, giống cam sành không hạt LĐ6, do Viện cây ăn quả miền Nam chọn tạo ra đã được đưa vào trồng khảo nghiệm và tỏ ra thích hợp với điều kiện của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chất lượng quả tốt và số hạt/quả thấp < 5 hạt/quả, ổn định. Để tạo điều kiện cho sinh trưởng và phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài Xác định ảnh hưởng phân bón qua lá, chất điều hòa sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học trong nhà trường vào nghiên cứu khoa học và trau dồi kiến thức, kinh nghiệm thực tế nắm được cách tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, biết phương pháp thu thập, xử lý số liệu và trình bày một báo cáo khoa học.
- Là cơ sở để tiến hành nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp quy trình kỹ thuật mới phù hợp với điều kiện sản xuất cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Lựa chọn được giống cam thích hợp đối với điều kiện sinh thái của vùng để đưa vào nhân rộng trong sản xuất. - Giúp cho người dân bước đầu tiếp cận các biện pháp kĩ thuật mới trong việc trồng và chăm sóc cây cam góp phần tăng năng suất, chất lượng quả, hạn chế sâu bệnh nâng cao thu nhập cho người làm vườn. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, dinh dưỡng và khí hậu,. Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết. Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng.
Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả. Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông). Do vậy việc bổ sung dinh dưỡng, nhất là dinh dưỡng qua lá cho cây giúp cho cây ra được các đợt lộc tốt với số lượng lộc nhiều. Cùng với việc sử dụng phân bón lá, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng là một biện pháp kĩ thuật tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Chất điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hóa học rất quan trọng đối với nhiều loại đối tượng cây trồng. Các ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, sự ra hoa của cây, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt,… Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh sau đó hợp tử phát triển thành phôi. Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin. Các chất này khuyếch tán vào bầu và h 5 kích thích sự lớn lên của quả.
Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng. Trong số các hoocmon sinh trưởng thì Gibberellin axít (GA3) có ảnh hưởng lớn, quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cây. Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, giúp kích thích sự sinh trưởng kéo dài của các cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả. Nguồn gốc và phân loại của cam 2.
Nguồn gốc Cam quýt có lịch sử trồng trọt từ lâu đời sau cây nho trong các loài cây ăn quả. Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya Trung Quốc vùng quần đảo Philipin, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo dài đến lục địa Úc. Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]. Giống cam nổi tiếng thế giới.
Cam chua ( Citrus aurantium Osbeck) có nguồn gốc ở Đông Nam châu Á, có khả năng ở Ấn Độ hoặc Nam Trung Quốc. Cam chua không ngừng được đưa về hướng Tây, Bắc Phi và Tây Ban Nha ở thế kỷ đầu tiên sau công h 6 nguyên vào khoảng 700 năm, liên quan đến sự xâm chiếm của người Ả Rập tới Bắc Phi và Tây Ban Nha (Nguyễn Thế Huấn và cs, 2005) [7]. Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quýt đến thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây. Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các thuyền buôn, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (Trần Như Ý và cs, 2000) [12].
Phân loại cam quýt Cam quýt thuộc bộ cam quýt (Rutales), họ cam quýt (Rutaceae), được phân chia làm 130 giống (genera) với những đặc điểm chung như cây có mang tuyến dầu (chủ yếu phân bố ở lá), bầu lọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả thảo gồm 2 hay nhiều noãn bên trong, 130 giống này nằm trong họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae) là có ý nghĩa nhất. Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc “gần cam quýt”, và nhóm “cam quýt thực sự” (True Citrus group) được phân bố từ Citreace và tộc phụ Citrnae (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]. Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều giống (Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids), hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt. Hiện nay tồn tại 2 hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng, theo Tanaka, Nhật Bản (Phạm Văn Côn, 1997) [1].
Cam quýt gồm 100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tế sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt trong quá trình trồng trọt đã biến dị trở thành giống mới.