Đặt vấn đề Hiện nay, nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, sự thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp đang là vấn đề lớn mà chúng ta cần quan tâm. Trong đó, đáng chú ý là các mặt hàng rau, quả vốn được coi là tiềm năng và thế mạnh của nước ta do vậy cần phải có những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của nó trong thời kỳ hội nhập kinh tế, quốc tế (Mai Phương Anh và cs, 1996) [1]. Đứng trước những nhu cầu của thị trường các nước trên thế giới cũng như trong khu vực, các cây hoa màu ngắn ngày cho năng suất cao, chất lượng tốt như: Cây chè, ngô ngọt, dưa chuột bao tử đều là mặt hàng thiết yếu cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu sang các nước trên thế giới và khu vực.
Đó là những tiềm năng mang lại giá trị kinh tế cao phục vụ đời sống của người dân [31]. Sau khi vấn đề an ninh lương thực được giải quyết, ngành sản xuất rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Dưa chuột là cây rau ăn quả ngắn ngày nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, là cây trồng cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu được nhiều quốc gia ưa chuộng. Giống dưa chuột bao tử ngày càng được trồng và sử dụng phổ biến ở nước ta.
Các giống chủ yếu là nhập ngoại, nên rất mẫn cảm với điều kiện thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm không khí, nên tỷ lệ đậu quả thấp, phẩm cấp chất lượng kém, năng suất thấp (Lê Thị Vân Anh, 2003) [2]. Các biện pháp kỹ thuật bón phân chỉ áp dụng với các giống có diện tích sản xuất lớn còn trồng nhỏ lẻ tại các hộ gia đình hầu như không bón hoặc bón c 2 phân theo cảm tính, dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu gây lãng phí mà hiệu quả đạt được không cao. Chính vì vậy nhằm góp phần giúp người dân có được công thức bón phân hợp lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển của dưa chuột bao tử vụ đông 2016 tại Thái Nguyên” 1. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống dưa chuột bao tử Surya vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên. Trên cơ sở đó để xác định loại phân tốt nhất để nhằm làm tăng năng suất góp phần xây dựng quy trình bón phân cho cây dưa chuột bao tử tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài − Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh tới khả năng sinh trưởng của giống dưa chuột bao tử Surya vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên. − Đánh giá được ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ vi sinh tới sự ra hoa, quả của giống dưa chuột bao tử Surya vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên.
− Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến tình hình sâu bệnh hại của cây dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên. − Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh tới năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp sử dụng các loại c 3 phân bón thích hợp cho giống dưa chuột bao tử Surya vụ Đông trên địa bàn Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên, làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy về cây dưa chuột tại trường. Ý nghĩa thực tiễn Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở đề xuất loại phân bón thích hợp áp dụng cho giống dưa chuột bao tử Surya tại Thái Nguyên và các vùng lân cận nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho người dân. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc phân bố, phân loại dưa chuột bao tử Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ Bầu bí có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm thuộc Nam Châu Á.
Hiện nay dưa chuột là một loại cây trồng phổ biến ở nhiều nước. Là loại rau ăn quả thương mại quan trọng. Dưa chuột thuộc họ bầu bí, thân dây leo và được sử dụng trong bữa ăn của các gia đình như một loại rau ăn mát và giòn. Dưa chuột có nguồn gốc từ Nam Á, hiện tại đã phát triển trên hầu hết các châu lục: Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Ai Cập và Tây Ban Nha.
Có nhiều giống dưa chuột khác nhau được giao dịch trên toàn cầu. Theo Gabaev X (1932), dưa chuột được chia thành 3 loài phụ: Loài phụ Đông Á, loài phụ Tây Á, dưa chuột hoang dại. Đặc điểm sinh học dưa chuột bao tử Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu, được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả nghiên cứu cho thấy dưa chuột bao tử là cây có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chứa nhiều vitamin A, B, B6, E… và đặc biệt có nhiều men tiêu hóa có lợi.
Dưa chuột bao tử có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm nên rễ dưa chuột bao tử yếu hơn cây bí ngô, dưa hấu và dưa thơm. Hệ rễ ưa ẩm, không chịu khô hạn, không chịu ngập úng. Hệ rễ có thể ăn sâu dưới đất 1m, rễ nhánh rễ phụ phát triển tuỳ điều kiện đất đai, hệ rễ phân bố ở tầng đất 0-30cm nhưng tập trung hầu hết ở tầng đất 15-20cm. Sau mọc 5-6 ngày rễ phát triển mạnh, thời kỳ cây con rễ sinh trưởng yếu.
Khi cây trưởng thành, hệ thống rễ ăn rộng ra 6- 7feet (180-210cm), rễ bất định sẽ mọc ra từ vùng điểm của thân leo. c 5 Dưa chuột bao tử là loại cây thân leo dài từ 1,7 đến 2,5m trung bình mỗi cây có từ 25-30 đốt, mỗi đốt dài từ 6-10 cm, phân nhánh ít (3-8 nhánh), nhánh được mọc ra từ các đốt ở gốc. Tua được mọc ra từ các đốt, khả năng leo bám kém, do vậy phải thường xuyên cố định ngọn bằng dây. Dưa chuột bao tử thuộc loại cây hai lá mầm, lá có màu xanh đậm, trung bình mỗi cây có từ 20-30 lá, lá có 5 cánh, chia thuỳ nhọn hoặc dạng chân vịt, có dạng tròn, trên lá có lông cứng, ngắn.
Dưa chuột bao tử có thời gian sinh trưởng ngắn (trung bình 80-90 ngày tuỳ giống). Thời gian từ trồng đến thu hoạch lứa đầu khoảng 35-40 ngày (Bắc Giang, 2008)[3]. Những yêu cầu về kỹ thuật chăm sóc - Đối với cây dưa chuột bao tử thường được trồng hai vụ chính trong một năm: Vụ xuân được gieo hạt và trồng từ 10/2-30/3, vụ thu đông được gieo hạt và trồng từ 05-20/09. - Dưa chuột bao tử có thể trồng được trên nhiều loại đất như cát pha, thịt nhẹ nhưng phải chủ động nước tưới tiêu.
Cần làm đất kỹ sạch cỏ, cầy thành luống rộng, luống rộng 1,4- 4,5m tuỳ theo đất cao thấp mà làm mặt luống cao trên 30-40cm, rãnh luống rộng 50-60cm, trồng thành hàng đôi, cây cách cây 60cm, hàng cách hàng từ 60-80cm, đảm bảo mật độ từ 680-750 cây/sào. Để đảm bảo mật độ trồng và thu hái đồng loạt và tiện chăm sóc thì lên tiến hành ngâm ủ và làm bầu. + Đầu tư và chăm sóc. Cây con có hai lá tai đối với vụ thu đông, 2 lá thật với vụ xuân thì đem ra trồng và trồng vào thời tiết mát.
Khi trồng nếu dùng phân hoá học (đạm, lân, kali) để bón lót thì phải bón xa gốc. Sau khi trồng dùng nước tưới nhẹ để cây im gốc không bị đổ ngã. Mức đầu tư phân bón cho một sào: Phân chuồng 500kg, phân lân 50kg, c 6 đạm Urê 20-25kg Kali 10kg, vôi 15kg. Có thể dùng NPK (5:10:3) bón với lượng 50kg/sào, NPK (12:5:10) thúc khi vun với lượng 25kg và NPK (16:16:8) với 30-40kg/sào để thay thế các loại phân hoá học trên.
Bón lót 100% phân chuồng + 30% lân + 10% đạm +10% kali + 100% vôi nếu là phân tưới thì cần bón vào giữa hai hàng dưa, các phân bón còn lại trộn đều và bón xa gốc. Khi cây có bốn lá thật cần vun xới, tưới. Khi cây có 4 lá thật cần vun xới, tưới thúc đạm và lân với lượng 20% đạm + 30% lân và tiến hành cắm giàn theo hình chữ A. Trên giàn cần buộc từ 1-2 thanh nẹp ngang để tạo điểm tì và tránh đổ khi gió lùa, dùng dây cố định thân dưa vào giàn.
Khi dưa đã bắt đầu được thu hái trở đi chú ý tưới nước và bón phân định kỳ từ 3 - 5 ngày 1 lần, lượng phân sẽ tăng dần khi sản lượng dưa tăng. Thông thường khi thu hoạch được từ 20 - 30 kg dưa /sào/lần thì cần bón 2,5kg urê + 1 kg kali + 3 kg supe lân và duy trì nước định kỳ ở rãnh giai đoạn thu hoạch với độ sâu từ 3 - 5cm. + Phòng trừ sâu bệnh: Trước khi cho bầu ra ruộng trồng phải tiến hành phun thuốc phòng sâu bệnh cho cây con để tránh ròi đục lá, bệnh chết ẻo, bệnh thắt gốc dùng thuốc Rigan 800WG, THAN 80 WP … Trong quá trình chăm sóc phải chú ý phun phòng bệnh đốm lá bằng Zinep, Daconil, Rhydomil định kỳ 6 - 8 ngày một lần, nếu có mưa dầm hoặc gió mùa đông bắc thì 3 - 4 ngày phải phun một lần. Dưa có rất nhiều loại rệp, bọ chích hút nên phải phòng định kỳ bằng các loại thuốc như : Disterex, Actara, Rigent, tập kỳ … Các loại sâu ăn lá dùng Shexpa, Paxtax.
Phải bảo vệ được bộ lá xanh suốt từ lúc bắt đầu thu hoạch đến giai đoạn tàn thì mới đảm bảo được năng suất cao. c 7 + Chế độ nước: Cần duy trì đủ độ ẩm cho dưa chuột bao tử nhất là thời kỳ cây cho thu quả, những ruộng đất nhiều cát không nên ngâm nước ở rãnh. + Thu hoạch quả: Thông thường sau khi trồng khoảng 35 ngày dưa cho thu hoạch.