Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân tổng hợp npk đến khả năng tái sinh chồi và năng suất sinh khối cây cao lương ngọt trồng trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ

Nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân NPK đến tái sinh chồi và năng suất sinh khối cây cao lương ngọt trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

74
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Cơ sở thực tiễn

2.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cao lương trên thế giới

2.2.2. Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới giai đoạn 2010-2014

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu

3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.4. Nội dung nghiên cứu

3.5. Phương pháp theo dõi

3.6. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.7. Quy trình kỹ thuật

3.8. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.9. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây cao lương ngọt

4.2. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến động thái tăng trưởng chiều cao chồi tái sinh của cây cao lương ngọt

4.3. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến động thái tăng trưởng chiều cao chồi tái sinh

4.4. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến động thái ra lá của chồi tái sinh

4.5. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến khả năng chống đổ và phục hồi của cây cao lương ngọt

4.6. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến sâu, bệnh hại của cây cao lương ngọt

4.7. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến một số yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của cây cao lương ngọt

4.8. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến một số yếu tố cấu thành năng suất của cây cao lương ngọt

4.9. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến một số yếu tố chất lượng của cây cao lương ngọt

4.10. Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân NPK

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPK đến tái sinh chồinăng suất cây cao lương ngọt trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ. Phân bón NPK được sử dụng với các liều lượng khác nhau để xác định mức độ tối ưu cho sự phát triển của cây. Kết quả cho thấy, liều lượng phân bón ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tái sinh chồi và năng suất sinh khối của cây cao lương ngọt. Cụ thể, liều lượng phân bón cao hơn giúp tăng cường sự phát triển của chồi và năng suất sinh khối, nhưng cần cân nhắc để tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường.

1.1. Ảnh hưởng đến tái sinh chồi

Tái sinh chồi là yếu tố quan trọng trong việc duy trì năng suất cây cao lương ngọt. Nghiên cứu chỉ ra rằng, liều lượng phân bón NPK cao hơn giúp tăng số lượng chồi tái sinh và tốc độ phát triển của chúng. Tuy nhiên, liều lượng quá cao có thể dẫn đến hiện tượng chồi phát triển quá mức, gây cạnh tranh dinh dưỡng và ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng.

1.2. Ảnh hưởng đến năng suất sinh khối

Năng suất sinh khối của cây cao lương ngọt được cải thiện đáng kể khi sử dụng phân bón NPK với liều lượng phù hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, liều lượng phân bón tối ưu giúp tăng năng suất sinh khối lên đến 20-30% so với đối chứng. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của phân bón trong việc nâng cao hiệu quả canh tác trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ.

II. Đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ

Đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ là loại đất có đặc tính nghèo dinh dưỡng và chứa nhiều kim loại nặng. Nghiên cứu này đã chứng minh rằng, cây cao lương ngọt có khả năng thích nghi và phát triển tốt trên loại đất này khi được bổ sung phân bón NPK phù hợp. Việc sử dụng phân bón không chỉ cải thiện năng suất cây trồng mà còn góp phần cải tạo đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2.1. Khả năng cải tạo đất

Cây cao lương ngọt có khả năng hấp thụ kim loại nặng từ đất, giúp cải thiện chất lượng đất sau khai thác mỏ. Kết hợp với việc bón phân NPK, quá trình cải tạo đất được đẩy nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại cây trồng khác phát triển.

2.2. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Việc trồng cây cao lương ngọt trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cây cao lương ngọt hấp thụ các chất độc hại, giúp làm sạch đất và nước, đồng thời tạo ra nguồn năng lượng sinh học thân thiện với môi trường.

III. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trên các vùng đất khó canh tác như đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xác định liều lượng phân bón NPK tối ưu, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong canh tác cây cao lương ngọt.

3.1. Hiệu quả kinh tế

Việc sử dụng phân bón NPK với liều lượng phù hợp giúp tăng năng suất cây cao lương ngọt, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chi phí đầu tư vào phân bón được bù đắp bởi lợi nhuận thu được từ năng suất cây trồng.

3.2. Phát triển bền vững

Nghiên cứu này góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững, đặc biệt là trên các vùng đất khó canh tác. Việc trồng cây cao lương ngọt kết hợp với bón phân NPK không chỉ cải thiện năng suất mà còn góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra nguồn năng lượng tái tạo và thức ăn gia súc chất lượng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/03/2025
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân tổng hợp npk đến khả năng tái sinh chồi và năng suất sinh khối cây cao lương ngọt trồng trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong bối cảnh nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, giá nhiên liệu liên tục tăng như hiện nay cùng với biến đổi khí hậu và yêu cầu cắt giảm khí thải CO2 thì việc nghiên cứu tìm ra nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo (NLTT) thay thế năng lượng truyền thống là một giải pháp hết sức cấp bách. Năng lượng sinh học (NLSH) nói chung, là một loại NLTT, được coi là một trong những nhiên liệu thân thiện với môi trường và hiện nay đang được phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nghiên cứu phát triển nguồn năng lượng sinh học có ý nghĩa hết sức to lớn đối với vấn đề an ninh năng lượng quốc gia, thực hiện công ước quốc tế về cắt giảm khí thải CO2, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế nông thôn theo hướng hàng hóa và công nghiệp hóa. Hiện nay, nguyên liệu chính để sản xuất NLSH là sắn lát khô, tuy nhiên năng suất sắn thấp (trung bình chỉ đạt 17 tấn/ha) nên đòi hỏi diện tích vùng nguyên liệu rất lớn, ảnh hưởng đến quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp.

Do vậy việc tính đến cây trồng nhiên liệu khác có khả năng thâm canh cho năng suất cao ít cạnh tranh là vô cùng cần thiết đối với nền công nghiệp năng lượng sinh học ở Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu đã tiến hành so sánh tính khả thi trong việc sử dụng lúa mỳ, lúa mạch, ngô, cao lương hạt, củ cải đường và cao lương ngọt làm nguyên liệu sản xuất chất đốt ở châu Âu và kết quả cho thấy cây cao lương ngọt là cây trồng có tiềm năng nhất do có hiệu suất quang hợp cao và khả năng thích nghi rộng. Cây có thân chứa mọng nước, được sử dụng cho thức ăn thô xanh và thức ăn ủ chua hoặc để sản xuất xi- rô. Hạt cao lương ngọt có thành phần hóa học như ngô gồm sucrose, fructose và glucose, có thể lên men trực tiếp thành ethanol bằng nấm men.

n 2 Khả năng tổng hợp chất hữu cơ cao hơn ngô 23%, nhu cầu nitơ và nước thấp hơn ngô là 37% và 17%, có khả năng sinh trưởng và phát triển ở những vùng đất có thể trồng ngô. Cứ 16 tấn cây cao lương ngọt có thể sản xuất được 1 tấn ethanol, phần bã còn lại còn có thể chiết xuất được 500kg dầu diesel sinh học. Người ta chỉ chế biến nhiên liệu từ thân cây, phần hạt cao lương ngọt vẫn dùng để làm thực phẩm (FAO, 2003) [25] Bên cạnh đó, cao lương còn là cây trồng năng lượng có khả năng cải tạo, hút các kim loại nặng tồn lưu trong đất. Đặc biệt, đất sau khai thác khoáng sản trữ một lượng kim loại rất lớn ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí gây ô nhiễm cho những sinh vật sống trong khu vực đó.

Do vậy, nhằm khai thác những mặt lợi thế của cây cao lương như tạo ra nguồn năng lượng ( khí sinh học, NLSH) nguồn thức ăn chủ động cho gia súc trong điều kiện đất canh tác có hạn và bị thu hẹp, đồng thời giải quyết các vấn đề ô nhiễm và cải tạo đất, mở rộng diện tích trồng cây, phủ xanh đất trống, chống xói mòn, tăng tính đa dạng sinh học, góp phần giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính tại các khu vực ảnh hưởng bởi khai thác khoáng sản, việc trồng thử nghiệm cây cao lương trên đất khai thác mỏ thành công sẽ mang lại nhiều tác động tích cực cho môi trường sinh thái sau khi mỏ Núi Pháo hoàn thành khai thác. Mặt khác, cây cao lương có sức tái sinh rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2 – 3 lần tùy thuộc vào mức độ thâm canh. Để có tái sinh mọc lại nhanh, chừa lại phần gốc ít nhất 10 – 18cm sau khi thu hoạch. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp kỹ thuật đối với cao lương ngọt đặc biệt là là sự tương tác giữa liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến năng suất, chất lượng, khả năng tái sinh.

Bên cạnh đó, Núi Pháo ( Đại Từ - Thái Nguyên) là một địa điểm khai thác khoáng sản có diện tích rất lớn đất hoàn nguyên cần phải cải tạo, rất thích hợp n 3 để nghiên cứu khả năng phát triển và chống chịu của mầm tái sinh. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân tổng hợp NPK đến khả năng tái sinh chồi và năng suất sinh khối cây cao lương ngọt trồng trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ tại Núi Pháo, Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Xác định được liều lượng phân tổng hợp NPK phù hợp cho cao lương ngọt để cây tái sinh chồi và đạt được năng suất sinh khối cao trong điều kiện đất sau khai thác mỏ tại Núi Pháo, Thái Nguyên.

Yêu cầu của đề tài Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân bón tổng hợp NPK đến khả năng tái sinh chồi, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất sinh khối và hàm lượng đường của cây cao lương ngọt trồng trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất nông nghiệp, phân bón có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Nhu cầu dinh dưỡng của cây cao lương rất giống với cây ngô nhưng cao lương cần một lượng đạm lớn, một lượng vừa phải phot pho và kali.

Mặt khác, phân bón được sử dụng trong thí nghiệm là phân NPK tổng hợp có hàm lượng đạm tương đối cao so với phốt pho và kali (10-6-4), điều này tương đối phù hợp với nhu câu dinh dưỡng của cây. Một diểm có lợi của việc dùng phân tổng hợp nữa là lượng phân tổng hợp này sẽ tan dần và cung cấp dinh dưỡng cho cây trong quá trình cây phát triển, không bị thất thoát nhiều do điều kiện ngoại cảnh gây ra. Theo Mortvedt và cộng sự (1996) [26], đất trồng cao lương thích hợp nhất là đất thoát nước tốt, pH từ 6 đến 7. Lượng phân bón tổng hợp NPK phụ thuộc vào kết quả kiểm tra mẫu đất trong khu ruộng cụ thể và cây trồng tiếp theo là gì.

Trong trường hợp không làm thí nghiệm kiểm tra mẫu đất, nói chung bón lần 33,6kg/ha và 8,6kg K/ha. Tuy nhiên ảnh hưởng của phân lân và kali sẽ không lớn nếu lượng lân và kali tồn dư trong đất từ vụ trước ở mức trung bình hoặc cao. Lượng đạm yêu cầu phụ thuộc vào năng suất mong muốn và giống. Lượng đạm khoảng 224,2 kg N/ha với điều kiện có tưới và 16,8 kg N/ha trong điều kiện khô hạn bởi vì ở điều kiện này liều lượng năng suất sẽ thấp hơn.

Lượng đạm cần bón có liên quan đến cây trồng trước, ví dụ cây họ đậu, lượng phân chuồng là những yếu tố cần tính đến để áp dụng mức phân cần bón. Nếu bón đạm ở mức nhiều cần chia ra nhiều lần bón đều nhau. Cao lương làm thức ăn gia súc sẽ lấy một lượng lớn đạm trong đất do đó người trồng phải kiểm tra hàm lượng đạm trong đất thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của cây. n 5 Qua điều tra, tổng kết về vai trò của phân bón của phân bón với cây trồng ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy: Trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn (làm đất, giống, mật độ gieo trồng, BVTV.), bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với năng suất và sản lượng cây trồng.

Giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình, cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón hợp lý. Từ thực tiễn sản xuất ở các nước cũng cho thấy: Không có phân hoá học thì không có năng suất cao. Ở các nước có hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn 100 năm trở lại đây (từ khi bắt đầu sử dụng phân bón hoá học), việc sử dụng phân khoáng làm tăng hơn 60% năng suất cây trồng. Cách mạng xanh ở Ấn Độ: Năm 1950, khi nông dân Ấn Độ chưa biết dùng phân bón chỉ sản xuất được 50 triệu tấn lương thực/năm, bị thiếu đói trầm trọng.

Năm 1984 nhờ sử dụng 7,8 triệu tấn phân bón/năm đã đưa sản lượng lương thực lên 140 triệu tấn, khắc phục nạn đói triền miên cho Ấn Độ. Kết quả điều tra của FAO trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20 trên phạm vi toàn thế giới cho thấy: tính trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng nông sản tăng lên hàng năm và bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thì thu được 10 tấn hạt ngũ cốc. Ở các nước châu Á, Thái Bình Dương (1979 – 1989), phân bón làm tăng 75% năng suất lúa. Sử dụng phân bón hợp lý luôn là cơ sở quan trọng cho việc phát huy hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật khác (làm đất, giống, mật độ gieo trồng, tưới tiêu, bảo vệ thực vật…).

Thực tế sản xuất đã cho thấy rằng việc bón thiếu, thừa hay bón không cân đối đều làm giảm chất lượng nông sản. Việc bón phân hợp lý cho cây trồng vừa nhằm đạt năng suất cây trồng cao thỏa đáng với chất lượng tốt, hiệu quả năng suất cao đặc biệt cần phải bón phân với liều lượng hợp lý (tối ưu) n 6 tùy thuộc vào loại phân bón, giống và loài cây trồng để cho cây phát triển sinh trưởng tốt, năng suất cao, hiệu quả của phân bón cao nhưng giảm chi phí đầu vào và không gây ô nhiễm nông phẩm và môi trường. Việt Nam là một nước nằm trong khu vực châu Á, thuộc khu vực nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều nhưng lượng mưa lại không phân bố đều trong năm nên có thể nói hạn là một trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của hầu hết các loại cây trồng. Hằng năm diện tích lúa nước bị hạn cục bộ khoảng 0,4 triệu ha.

Cao lương là cây trồng có khả năng chịu hạn cao thích hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam. Cao lương đang được nghiên cứu nhằm thay thế các cây trồng khác như mía, ngô, sắn. trong việc sản xuất năng lượng sinh học, cao lương có hàm lượng đường trong thân mía 9% (Karve và cs, 1970) [15]. Đó là chưa nói cao lương có hàm lượng năng lượng khá cao, tương đương với mía và gần gấp 4 lần so với bắp mà không có phế phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân NPK đến tái sinh chồi và năng suất cây cao lương ngọt trên đất hoàn nguyên sau khai thác mỏ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của phân bón NPK đối với sự phát triển của cây cao lương ngọt, đặc biệt là trong bối cảnh đất đai bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác mỏ. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa liều lượng phân bón để đạt được năng suất cao nhất mà còn góp phần vào việc phục hồi đất đai, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đánh giá ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sản xuất khoai tây đậu cô ve và cải xanh trong vụ đông xuân 2020 2021 theo hướng hữu cơ tại hải phòng, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các loại phân hữu cơ và tác động của chúng đến cây trồng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của liều lượng đạm kali đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô nk4300 tại huyện tiên yên tỉnh quảng ninh cũng sẽ cung cấp thêm cái nhìn về ảnh hưởng của các loại phân bón khác đến năng suất cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nông nghiệp và phân bón.