MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze ) là cây công nghiệp dài ngày có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao trong cơ cấu các cây trồng nông nghiệp ở nước ta, có lịch sử phát triển lâu đời hơn 4000 năm (Lê Tất Khương và cs, 1999)[3]. Chè là một thức uống có giá trị về mặt dinh dưỡng, dược liệu và văn hóa cao, được nhiều dân tộc trên thế giới ưa chuộng, lá chè có chứa nhiều hợp chất hữu cơ và tác động tốt đến sức khỏe con người. Lá chè còn chứa các Vitamin và một số tác dụng chữa bệnh và đường răng miệng, có khả năng phòng bệnh ung thư rất tốt (Nguyễn Hanh Khôi, 1983)[1].
Người Trung Quốc là những người đầu tiên trên thế giới sử dụng chè làm dược phẩm (Đông A Sáng, 2004)[12]. Pha chè và thưởng thức chè là văn hóa của nhiều dân tộc. Từ những nét đẹp về văn hóa trà, người Nhật đã nâng nghệ thuật thưởng trà thành “ Trà đạo”của dân tộc. Tính đến hết năm 2016, Việt Nam đã có 133.300 ha chè, xuất khẩu chè đạt 124.600 nghìn tấn, trị giá 155 triệu USD (gapping word, 2016)[20].
Ở Việt Nam chè được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi như Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La. Cây chè có lịch sử trồng và khai thác lâu đời. Từ xa xưa người dân đã biết trồng, chăm sóc, thu hái, và uống chè, biết dùng chè làm sản phẩm hàng hóa. Cây chè không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có tác dụng che phủ giữ nước, bảo vệ đất, chống xói mòn cho vùng đồi núi, đáp ứng yêu cầu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên, chè là cây trồng được coi là cây trồng quan trọng. Cây chè là cây công nghiệp có tiềm năng, là cây chủ lực trong việc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng c 2 thu nhập cho người dân trên địa bàn tỉnh ngày càng được quan tâm khái thác và trở thành cây trồng mũi nhọn của tỉnh. Theo kế hoạch năm 2016 tỉnh Thái Nguyên trồng mới lại 1000 ha chè với nhiều giống chè khác nhau, đây là kế hoạch quan trọng, đòi hỏi người sản xuất cần có biện pháp trồng và chăm sóc chè tốt. Phú Lương là một huyện của tỉnh Thái Nguyên, là một huyện miền núi, có diện tích đất tự nhiên 368,62 km2, có điều kiện tự nhiên phù hợp cho trồng các giống chè, TR777, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên.
ngoài các giống đó người dân đang hướng phát triển giống trè Trung Du búp tím. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn, đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải thực hiện nhiều biện pháp tích cực nhằm giúp cây sinh trưởng tốt thời kỳ kiến thiết cơ bản để giúp tăng năng suất và chất lượng chè thời kỳ kinh doanh. Bên cạnh các biện pháp kỹ thuật như: chọn giống, làm đất, bón phân, phòng trừ sâu bệnh. thì biện pháp kỹ thuật đốn là một trong những biện pháp quyết định đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng chè.
Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng các loại hình đốn cho chè thời kỳ kiến thiết cơ bản tại vùng chè xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên còn rất ít, làm chè tán nhỏ, búp ít, chóng mù xoè, nhiều cành yếu. Người dân vẫn để cây chè mọc tự nhiên không đốn hoặc đốn tùy ý không có mức đốn thích hợp với chè xong ưu, nhược điểm của các kỹ thuật này chưa được làm rõ. Đốn chè kiến thiết cơ bản đây là biện pháp quan trọng giúp cây chè có bộ tán rộng, vững chắc, phân cành đều, hình thù cân đối, tăng diện tích mặt tán để nương chè mau khép tán, tăng số hiệu búp, giúp cây có chiều cao tán thuận lợi cho việc thu hái và có khả năng cho năng suất cao, nhiệm kỳ kinh tế dài. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật đốn đến sinh trưởng, phát triển của giống chè Trung Du búp tím thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Phú Lương Thái Nguyên năm 2016” c 3 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Xác định được biện pháp kỹ thuật đốn thích hợp nhất với chè Trung Du búp tím thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Phú Lương Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật đốn đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống chè Trung Du búp tím thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Phú Lương Thái Nguyên. - Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật đốn đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng chè.
- Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật đốn đến mức độ sâu hại. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Đốn chè là biện pháp độc đáo so với cây trồng khác và là biện pháp có ý nghĩa lớn với sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng chè nguyên liệu của cây. Theo lý luận về phát dục giai đoạn thì các vị trí của cành trên cây chè có trình độ phát dục khác nhau, cành phía trên hoặc phía trên ngọn của cây thường liên tục phát dục già, ra hoa, kết quả, khả năng sinh trưởng dinh dưỡng yếu, năng lực sản xuất búp kém.
Sau một thời gian sinh trưởng nhất định, những phần cành có tuổi phát dục già ấy cần được đốn đi để các mầm ở phía dưới phát triển. Trong quá trình sinh trưởng, các cành ở phía trên mặt tán có ưu thế sinh trưởng mạnh (gọi là ưu thế sinh trưởng đỉnh) kìm hãm sự phát triển của những cành ở phía dưới. đốn chè sẽ phá vỡ ưu thế sinh trưởng đỉnh, tạo điều kiện cho các mầm chè phía dưới phát triển. Giữa bộ phận trên và dưới mặt đất của cây chè luôn có tỷ lệ cân bằng, đốn chè là hình thức phá vỡ thế cân bằng giữa hai bộ phận đó, tạo điều kiện cho bộ phận trên mặt đất phát triển.
Vì thế đốn càng đau, búp mới phát sinh, sinh trưởng càng mạnh. Ở miền Bắc nước ta, mùa Đông nhiệt độ thấp, khí hậu khô, cây chè bị thoát hơi nước mạnh, nếu để nhiều lá cây chè ở trạng thái mất cân bằng về chế độ nước, đốn chè là biện pháp nhằm loại bỏ bớt một số lá nhất định, chỉ giữ lại một số lượng lá trên cây thích hợp hạn chế thoát hơi nước của cây. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình sản xuất chè trên thế giới Hiện nay, trên thế giới chè đã là thứ nước uống hàng ngày của tỷ người.
Ngay cả các nước phương Tây thì số người chuyển sang uống chè ngày càng tăng. c 5 Theo Đỗ Ngọc Quỹ(2008)[11], quốc gia đầu tiên trên thế giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau công nguyên, vào Indonexia năm 1645, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaysia năm 1914 đến năm 1920 thì tiến tới các nước ở Châu Phi như: Kenia, Malawwi, Ghine. Hiện nay, trên thế giới có trên 50 quốc gia trồng chè, cây chè được phân bố từ 30 vĩ Nam đến 45 vĩ độ Bắc, tập trung chủ yếu vẫn là Châu Á và Châu Phi. Một số nước trồng chè chính trên thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Kennya, Việt Nam, Myanma, Nhật Bản.
các nước có diện tích, năng suất và sản lượng biến động được biểu hiện qua các năm. *Diện tích Bảng 2.1 : Diện tích chè của thế giới và một số nƣớc trồng chè trên thế giới năm 2010 - 2014 Đơn vị: ha Năm Tên nƣớc 2010 2011 2012 2013 2014 Trung Quốc 1.831 Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2017[22] Qua bảng 2.1 cho thấy: Trung quốc Trong những năm gần đây sản xuất chè Trung Quốc có biến động qua các năm cụ thể: c 6 Về diện tích: giai đoạn 2010 - 2014 Trung Quốc có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới, năm 2010 có diện tích trồng chè 1.590 ha, tăng lên 1.014 ha vào năm 2014, như vậy qua 5 năm diện tích chè tăng 855.424 ha trung bình mỗi năm tăng 171084,8 ha. Theo Bộ Trưởng Nông nghiệp Trung Quốc nước sản xuất chè lớn nhất thế giới, trong năm 2016 diện tích trồng chè của Trung Quốc đạt 2,87 triệu ha, lớn hơn bất cứ diện tích trồng chè tại nước nào khác trên thế giới. Ấn Độ Qua bảng 2.1: cho thấy Diện tích chè tại Ấn Độ giai đoạn năm 2010 đến năm 2014 đứng thứ 2 trên thế giới sau Trung Quốc.
Năm 2010 Ấn Độ có diện tích 579.000 ha sau đó tăng lên 604.000 ha vào năm 2010, như vậy diện tích tăng 25000 ha tương đương với 4,31 % so với năm 2010, trung bình mỗi năm tăng 5000 ha. Sri Lanka Là một trong những nước sản xuất chè lớn trên thế giới, Sri Lanka sở hữu vô số các đồn điền chè rộng lớn, với độ cao 2.000m so với mực nước biển, nơi đây có khí hậu ôn hòa, mát mẻ rất thích hợp để những người dân Sri Lanka chăm sóc và cho ra những sản phẩm chè có chất lượng cao. Sri lanka bắt đầu trồng chè vào khoảng 1837 - 1840, nhưng thực sự phát triển từ năm 1867 - 1873. Chè Sri Lanka tập trung ở các tỉnh miền trung, miền tây và tây bắc.
Nhiệt trung bình cả năm khoảng 18 - 19oC, lượng mưa trên dưới 1. Đất trồng chè chủ yếu là đất feralit màu vàng đỏ và màu nâu. Đặc điểm trồng chè của Sri Lanka là dùng các loại giống Atxam, Manipua. Ở các vùng thấp thường trồng cây họ đậu che râm và làm phân xanh, đốn chè 1 - 3 năm một lần giữ ở độ cao 1m, tạo tán bằng.
Qua bảng số liệu trên cho thấy diện tích chè của Sri Lanka từ năm 2010 đến năm 2014 đạt 221,96 nghìn ha không tăng so với 2010. c 7 Kenya Kenya có diện tích chè tăng tương đối nhanh từ năm 2010 đến năm 2014, năm 2010 diện tích đạt 171,91 nghìn ha sau đó tăng lên 203 nghìn ha, sau 5 năm diện tích tăng lên 31,09 nghìn ha, tăng 18,08% so với năm 2010. Diện tích tăng tạo điều kiện cho sản lượng chè tăng. Bangladesh Diện tích chè của Bangladesh năm 2010 đạt 52.236 ha đến năm 2014 đạt 59.689 ha tương đương với tăng 14,71% so với năm 2010.
Thế giới: diện tích chè đạt 3.178 ha năm 2010 đến năm 2014 diện tích đạt 3.831 ha, trong 5 năm diện tích chè thế giới tăng 20,81%. *Năng suất Bảng 2.2: Năng suất chè của thế giới và một số nƣớc trên thế giới năm 2010 đến năm 2014. Đơn vị: tạ khô/ha Năm Tên nƣớc 2010 2011 2012 2013 2014 Trung Quốc 10.