Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 1. Nguồn gốc Cây dong riềng có tên khoa học Canna edulis Ker. Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ.
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam Mỹ là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann, 1999). Dong riềng được gọi bằng một số tên khác nhau như Queenland Arrowroot, Canna Indica (L. Dong riềng được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính (Mai Thạch Hoành và cs, 2011).
Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới, - C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico, - C. flaccida ở Nam Mỹ, - C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới, - C.
Indica ở châu Mỹ nhiệt đới, - C.humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á, châu Phi, Châu Úc. Phân loại cây dong riềng - Tên khoa học: Canna Edulis Ker - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea - Bộ: Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 2n = 2X = 27 1.
Phân bố và các giống dong riềng Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng Nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann, M. Đặc điểm thực vật học của cây dong riềng Là loại cây thân thảo đứng, cao từ 1,2 – 1,5m, màu tía. Thân ngầm phình to thành củ, chứa nhiều tinh bột.
Củ nằm ngay dưới mặt đất. Lá hình thuôn, dài 50- 60cm, rộng 25-30cm có gân to chính giữa lá.Thời gian sinh trưởng 10 - 12 tháng: 1 tháng đầu (từ khi cây mọc) là thời kỳ cây con; 5 tháng tiếp theo là thời kỳ cây đẻ nhánh phát triển hoàn chỉnh về thân lá; 4 - 5 tháng cuối là thời kỳ củ phình to, tích luỹ tinh bột. Thời kỳ này được nhận biết từ khi dong riềng đẻ nhánh đông đặc kín đất và cây bắt đầu ra hoa. Sau 12 tháng cây sinh trưởng trở lại khi đó củ non nảy mầm, hàm lượng tinh bột trong củ chính sẽ giảm dần.
Cụ thể: Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ.
Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những n 9 bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô. Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng.
Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột. So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn. Năng suất cây dong riềng rất cao.
Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm dong riềng có thể thu được 15 – 20kg củ. Trồng thâm canh trên diện tích lớn dong riềng cho năng suất 50 – 60 tấn/ha Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím, mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng 22 – 25cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng mầu tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 – 15 cm. Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ.
Rễ của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy n 10 thuộc vào giống). Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất khoảng 20 - 30cm. Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, Hoa mọc ở ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều.
Cụm hoa được bao bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6 – 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa. Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn theo chiều dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản hình cánh hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước.
Vòng trong có 2 nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1 bao phấn, nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ. Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài; Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược, kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều dai mềm. Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5 mm. Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30oC, điều kiện ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ.
Tuy nhiên cây dong riềng chịu được nhiệt độ cao tới 37-380 C, gió khô và nóng và dong riềng chịu lạnh khá nên có khả năng trồng ở vùng núi cao có độ cao trên 2.500m so với mặt nước biển và nhiệt độ mùa đông có nơi xuống dưới 100C. n 11 Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Vì vậy rất thuận lợi cho việc trồng xen với các loại cây khác trong hệ thống canh tác đất dốc bền vững. Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ.
Điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá. Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất cao. Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là nơi dễ thoát nước.
Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến thối củ. Là cây có độ che phủ rất lớn trong suốt mùa mưa nên có thể trồng trên đất dốc núi cao. Yêu cầu nước: Dong riềng có đặc điểm chịu hạn tốt, có thể bố trí trên đất có độ dốc trên 15o, ít ẩm, nhưng dong riềng không chịu được ngập úng, nếu bị ngập úng cây thường bị vàng lá, thối củ. Vùng trồng dong riềng ở vùng có lượng mưa thích hợp 900- 1200 mm.
Chất dinh dưỡng: Cũng như các cây có củ khác, dong riềng yêu cầu có đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăng khối lượng củ. Cây dong riềng yêu cầu đất tốt giàu mùn để cho năng suất cao. Những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ. Phân bón rất có ý nghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, châu Á và một số nước nam Thái Bình Dương. Diện tích dong riềng trên thế giới khoảng 3. Năng suất trung bình đạt 30 tấn/ha.
Châu Phi là châu lục có diện tích trồng dong riềng lớn nhất thế giới. n 12 Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, nam Trung Quốc, Úc, và Đài Loan (Hermann, M. Trung Quốc là nước có diện tích dong riềng lớn nhất châu Á. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam Cây dong riềng chưa được đưa vào các báo cáo số liệu chính thức của ngành Thống Kê, tuy nhiên trong những năm gần đây dong riềng đang được phát triển mạnh ở nhiều địa phương, như: Trảng Bom, Đồng Nai; Hướng Hóa, Quảng Trị; Tam Đường, Sơn La; Bình Liêu, Quảng Ninh; Nguyên Bình, Cao Bằng; Bắc Kạn; Tuyên Quang; Hà Giang; Hòa Bình; .