Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc va phân loại của cây bạc hà 1.1 Nguồn gốc Cây bạc hà được con người sử dụng và biết đến từ rất lâu đời, chúng đã được trồng cách đây khoảng 2.000 năm tại nhiều quốc gia (Chu Thị Thơm và ctv, 2006). Bạc hà có nhiều ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil. Bạc hà được tìm thấy trong những ngôi mộ 3. Bạc ha có nguồn gốc từ Châu Âu.
Từ nước Anh qua vùng Bắc Âu đến vùng thấp của Châu Âu (thuộc Nga). Qua Uran đến Xibia xuất hiện bac hà ngọt (bạc hà Au) Mentha piperita Huds (Tôpalốp và ctv, 1966). Năm 1840, nước Anh bắt đầu trồng bạc hà nhưng hiện nay diện tích trồng bạc hà không đáng kể.000 năm, chúng được người Nhật Ban trồng dé chiết xuất tinh dau (Chu Thị Thơm và ctv, 2006). Riêng bạc hà Á phân bố chủ yếu ở miền Nam và Tây Âu.2 Phân loại Hiện nay, bạc hà được phân theo hai nhóm lớn: bạc hả Á (hay bạc hà Nhật, Mentha arvensis L.) và bạc hà Châu Au (hay bạc hà Au, Mentha piperita L.
Bac ha A có chất lượng tinh dau không cao nhưng hàm lượng menthol lớn (70 - 90%). Hiện sản lượng tinh dầu và menthol lấy từ loại bạc hà nay là nguồn cung cấp chủ yếu cho toàn thế giới (Chu Thị Thơm và ctv, 2006). Bạc hà Âu là kết quả của sự lai tạp từ 3 loại khác nhau là (Mentha sylves, Mentha rotundifolia, Mentha aquatica). Do đó dé bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh.
Chúng được trồng phố biến ở khắp nơi trên thế giới, chứa 48 - 68% menthol. Bạc hà Châu Âu được nhà thực vật học người Anh là John Ray (1628 - 1705) mô tả lần đầu tiên vào năm 1969 (Chu Thị Thơm và ctv, 2006). Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), cây bạc hà Á (bạc hà nam, bạc hà Nhật Bản, húng cay, hing bac hà) có tên khoa học là Mentha arvensis L.; cay bac hà thuộc giới Plantae, ngành Magnoniophyta, lớp Magnoniopsida, phân lớp Lamiidae, bộ Lamiales, họ 3 Lamiaceae, chi Mentha, loại M.2 Đặc điểm thực vật hoc Theo Chu Thị Thơm và ctv (2006), cây bạc hà có những đặc điểm thực vật học sau: Rễ: cau tạo từ thân ngầm dưới đất, phân bố dưới lớp đất 30 - 40 cm và phân nhánh như rễ phụ. Thân ngầm không chứa tinh dau, khi bộ phận khí sinh tan lui, thân ngầm vẫn sống qua đông.
Mùa xuân ấm áp thân ngầm tiếp tục phát triển thành bộ rễ và cho cây bạc hà mới. Khi cây và rễ mới hình thành xong, thân ngầm cũ héo và chết. Thân ngầm không có thời kì ngủ nghỉ rõ rệt, thời gian ngừng tạm thời phát triển vào tháng 11. Thân ngầm là đối tượng nhân giống và giữ cho tỷ lệ sống của cây tốt nhất.
Thân: gồm thân chính, cành cấp I, II tạo thành bộ khung tán cây. Giữa thân chính và tán tạo thành dạng hình chóp nón, tán càng lớn sản lượng càng cao. Thân thảo, tiết diện vuông, sinh sản bằng phân nhánh ở phần gốc thân ngay trên hoặc sát dưới mặt đất. Nếu mọc ở sốc, thân trên mặt đất tạo thành thân bò màu tím có mang lá.
Tại các phần đốt sát đất sinh ra các bó rễ con giữ chặt thân bò với đất. Thân chính cao 0,6 - 1,2 m, rỗng ruột khi già. Trên thân có đốt, mỗi đốt mọc hai mầm đối xứng nhau và các rễ bất định. Giữa hai đốt là các lóng, độ dài ngắn phụ thuộc vảo các giống và điều kiện trồng.
Thân chứa tinh dầu với hàm lượng thấp. Lá: là cơ quan đinh dưỡng quan trọng nhất làm nhiệm vụ quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước và mang tinh dầu. Đây là nguyên liệu chính dé chưng cắt tinh dầu chiếm 40 - 50% khối lượng khí sinh, tùy chủng loại mà lượng tinh dau biến đổi từ 2 - 6%. Lá đơn mọc đối chéo chữ thập, cuống lá ngắn, hình trứng màu xanh thẫm hoặc đỏ tím, xẻ rang cưa không đều, dai từ 4 - 8 cm, rộng 2 - 4 cm.
Hai phía mặt lá là các túi tinh dau, mặt trên số lượng tinh dầu lớn hơn mặt đưới. Trên lá có hai loại lông đặc biệt: lông thắng nhọn gồm 3 - 4 tế bào gọi là lông che chở (lông da bào), lông tù ngắn hơn có tinh dầu gọi là lông tiết tinh dầu (túi dau). Cấu tạo túi dau gồm 9 tế bào, một tế bao đáy, còn 8 tế bào xếp tròn trên đáy tao thành một khoang trống. Khi chứa day tinh dau thì có màng phủ căng và dé dang bị vỡ dưới tác động cơ giới.
Tế bảo tiết tinh dầu trên lá tăng từ đầu lá đến cuống lá và từ mép 4 lá vào giữa lá. Số lượng tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt. Hoa: hoa mọc thành cụm, cụm hoa tập trung ở nách hay ở ngọn, hoa nhỏ, màu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc vòng ở kẽ lá, lưỡng tính không đều, có năm lá đài liền nhau, năm cánh hoa liền nhau thành trang hình hai môi, bốn nhị, nhị hai trội (hai dài hai ngắn) bầu chia thành bốn ô, mỗi ô có một noãn, vòi đính vào gốc bầu. Cánh hoa màu tím, hồng nhạt hay trắng.
Đài hình chuông, mặt ngoài đài có lông bao phủ. Mùa hoa vào tháng 6 - 10.1 Bas hire nu Trïnh 1.2 Bas bina hea 1.3 Điều kiện ngoại cảnh 1.1 Nhiệt độ Cây bạc hà thích hợp ở nhiệt độ từ 18 - 25°C, cây ra hoa và nụ khi nhiệt độ từ 28 - 30°C (Chu Thi Thom va ctv, 2006). Trong thời kì ngủ nghỉ, cây bạc hà có thể chịu đựng nhiệt độ ở -10°C. Cây bạc hà sinh trưởng bình thường bắt đầu ở nhiệt độ trung bình ngày 10°C va cần thời gian từ 10 - 15 ngày.
Suốt trong thời gian sinh trưởng (từ khi mọc đến nở hoa), cây bạc hà cần lượng nhiệt tổng số là 1. Nhiệt độ cao tạo ra khả năng tích lũy tinh dầu tốt hơn và tối ưu ở 22 - 25°C, nhiệt độ cao hơn nữa thì hàm lượng tinh dầu giảm. Sự thay đôi đột ngột chế độ nhiệt làm cho cây trồng man cảm hơn đối với bệnh gi sắt (Tôpalốp và ctv, 1966). Theo Khôtin (Tôpalốp và ctv, 1966) cho biết, thời kì băng giá ngắn là nguyên nhân làm mắt khả năng đậu quả, chín hạt bình thường.
Thay vào đó bắt buộc cây phải 5 tạo thành ở bộ rễ một cơ quan có ý nghĩa hàng đầu đối với sự sinh sản sinh dưỡng. Cũng chính vì vậy, nó thúc đây quá trình phát triển và kết quả là rút ngắn thời gian sinh trưởng còn lại khoảng 90 - 100 ngày và cây trồng phát triển trong những tháng thời tiết thuận lợi nhất trong năm: tháng 4 đến tháng 7.2 Nước và độ 4m Khối lượng bộ phận khí sinh tương đối lớn, bộ rễ kém phát triển, lại phân bố trên lớp đất nông là những lý do làm cây bạc hà cần nước (cả độ ầm trong đất và độ âm trong không khí). Nhìn chung, trong thời gian sinh trưởng, nước càng đầy đủ bao nhiêu, khối lượng và chất lượng thu hoạch càng cao bấy nhiêu. Ngược lại hạn hán xảy ra, khối lượng va chất lượng thu được đều kém.
Độ 4m trong đất thích hợp nhất với bạc hà là 80% (độ am tương đối) (Tôpalốp va ctv, 1966). Trồng cây bạc hà trong điều kiện đất có độ âm cao trong suốt thời kì sinh trưởng, mặc dù cây cho các chỉ tiêu sinh trưởng cao, cho năng suất chất xanh cao nhất nhưng lại làm giảm tỷ lệ tinh dau. Tình trạng này có thé loại bỏ dé đàng bằng cách làm giảm độ am đất trong thời kì thu hoạch, nhưng không được quá 5 - 6 ngày trước khi thu hoạch, nếu dé quá lá sẽ rụng nhanh và hiệu quả sẽ ngược lại. Trong suốt quá trình sinh trưởng, cây bạc hà cần tới 570 mỶ/đêca và trung bình một ngày đêm can 2,8 m° nước (Tôpalốp và ctv, 1966).3 Ánh sáng Cây bạc hà thuộc nhóm cây ngày dài và phát triển tốt ở nơi chiếu sáng đầy đủ.
Dé phát triển bình thường cây đòi hỏi chiếu sáng từ 12 gid trở lên. Ngày dai 14 - 16 giờ, cây bac hà chuyền nhanh qua giai đoạn ánh sáng trong vòng 35 - 40 ngay và nở hoa sớm; giảm thời gian chiếu sáng xuống 8 - 9 - 10 giờ cây sẽ không qua được giai đoạn ánh sáng, không ra nụ hoa và tất nhiên sẽ không nở hoa, còn những cành sát gốc biến thành thân ngầm. Vì thế năng suất chất xanh giảm, còn năng suất thân ngầm lại tăng lên. Thời gian chiếu sáng giảm quá nhiều có tới 50% số lá bị rụng trước khi cây nở hoa.
Do đó, cần phải bố trí cây bạc hà là một cây trồng chính vụ trong cơ cấu cây trồng, chỉ cho phép trồng xen trong các vườn cây ăn quả ở độ tuổi 1 - 3 năm mới không có sự cạnh tranh ánh sáng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây bạc hà (Tôpalốp và ctv, 1966).4 Dinh dưỡng Bảng 1.1 Lượng các chất dinh đưỡng trong các bộ phận của cây và chất dinh dưỡng lấy đi từ đất trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Lượng chất dinh dưỡng (%) Chất dinh dưỡng lay từ đất Giai đoạn trong thân lá khô (kg/1000 m7) N P;Os KaO N P20s KaO Moc 3,954 0,950 5,516 0,056 0,014 0,079 Phan canh 2,740 0,734 2,822 1,485 0,399 1,565 Ra nụ 2,256 0,920 2,452 - - - Bắt dau nở hoa Hoa 2,543 1,347 2,869 1,274 0,634 1,434 La 2,523 0,992 1,662 3,604 1,417 2,374 Than cay 0,688 0,553 1,464 0,934 0,751 1,977 Thân bò mặt đất 0,802 - 2,761 0,286 - 0,986 Than ngam 0,711 0,493 1,522 1,879 1,303 4,022 Ré 0,581 0,475 1,325 0,519 0,424 1,188 (Tépalép và ctv, 1966) Cây bac ha cân một khôi lượng lớn các chat dinh dưỡng ở dang dê tiêu bởi có sô lượng lớn cây trên đơn vị diện tích, bộ phận khí sinh tăng nhanh trong thời gian sinh trưởng tương đối ngắn và bộ rễ phân bố nông trong lớp đất canh tác. Dam có tác dụng lớn nhất làm tăng khối lượng chất xanh, trên cơ sở ấy làm tăng năng suất tinh dầu trên đơn vị diện tích. Bon phân đạm sẽ kéo dài thêm thời gian sinh trưởng, làm tăng chiều cao cây, tăng số cành, số lá. Nói chung, năng suất chất xanh (gồm thân và lá cây) tăng lên.
Bón riêng phân lân hay kali cũng làm tăng năng suất chất xanh. Hiệu quả của phân lân tốt gần như phân đạm, còn phân kali kém hơn một chút. Mặt khác, phân đạm và lân dù bón riêng hay chung không ảnh hưởng đến tỷ lệ tinh dầu trong chất xanh. Trong khi đó, sự có mặt của nguyên tố kali làm giảm đáng kê tỷ lệ tinh dầu dẫn đến làm giảm năng suất.