Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Bưởi Diễn là cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai và chế độ chăm sóc. Tổng hợp những kết quả đã nghiên cứu trên cây có múi của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả Đỗ Đình Ca (1995) đã nhận định “Không thể có một kỹ thuật nào, một giống nào chung cho tất cả các vùng trên thế giới cũng như trong nước trong việc sản xuất cây có múi”. Vì vậy, mỗi vùng sinh thái đặc trưng cần phải nghiên cứu xây dựng các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là biện pháp bón phân phù hợp với yêu cầu nội tại của giống ở từng vùng nhất định.
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việc sử dụng các loại phân bón và hoạt chất trong nông nghiệp nhằm mục đích điều khiển sự phát triển của cây trồng theo hướng có lợi cho con người đang được triển khai một cách rộng rãi. Cây bưởi Diễn cũng như những cây trồng khác cũng đang nằm trong xu thế đó. Chất lượng quả có múi nói chung và quả bưởi Diễn nói riêng được cho là phụ thuộc nhiều vào chế độ bón phân, đặc biệt là phân bón vô cơ. Kali là một nguyên tố dinh dưỡng có ảnh hưởng tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cũng như năng suất, chất lượng quả.
Ở liều lượng tối ưu Kali có tác động tương hỗ làm tăng hệ số sử dụng đạm của cây, Kali thúc đẩy sự chuyển hóa và vận chuyển đường làm nâng cao chất lượng quả (Vũ Hữu Yêm, 1995). Phân bón vi lượng, đặc biệt là các loại phân bón có chứa nguyên tố vi lượng Bo có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa đậu quả, tăng năng suất chất lượng quả nếu được bón với liều lượng thích hợp. Cây bưởi khá mẫn cảm với việc dư thừa Bo, tuy nhiên thiếu Bo là nguyên nhân dẫn đến hoa kém phát triển, sức sống của hạt phấn kém, tỷ lệ đậu quả thấp, tầng rời ở cuống và quả không phát triển đầy đủ nên quả non dễ rụng. Ở cây bưởi, thiếu Bo hoa quả rụng nhiều, xuất hiện các vết nứt, gãy, mất màu trên nụ, năng suất, chất lượng quả giảm sút (Mengel và Kirlby, 1982).
5 Mặc dù kali và Bo đều có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển của giống bưởi Diễn nhưng Kali là nguyên tố đối kháng với Bo. Nếu bón nhiều kali sẽ ức chế sự hút Bo dẫn đến thiếu hụt Bo, ngược lại khi bị ngộ độc Bo bón Kali với lượng cao có thể làm giảm mức độ ngộ độc Bo. Do đó để tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất, chất lượng quả thì việc nghiên cứu nhằm xác định được công thức bón phân với liều lượng Kali và nồng độ Bo thích hợp đối với giống bưởi Diễn tại huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội giúp người dân sử dụng phân bón hợp lý là cần thiết. Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới và Việt Nam 1.
Tổng quan tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Cây có múi được trồng rộng khắp trên thế giới. Theo số liệu thống kê của FAOSTAT (2019), những năm gần đây trên thế giới sản xuất 8,5 – 13,8 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis). Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả. Trong khi đó sản xuất bưởi chủ yếu ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh,.
được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu. Diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) 2008 310.429 (Nguồn: FAOSTAT, 2019) 6 Kết quả bảng 1.1 cho thấy: Năm 2017 diện tích trồng cây bưởi trên thế giới tăng lên đáng kể đạt 444.072 ha, năng suất đạt 310,7 tạ/ha, sản lượng đạt 13. Trong vòng 10 năm trở lại đây cây bưởi tăng cả về diện tích, sản lượng và năng suất, đây là biểu hiện tích cực cho một thời kì phát triển mới của cây bưởi. Đi kèm với diện tích bưởi tăng là sản lượng bưởi toàn cầu tăng từ 7.
Năng suất bưởi bình quân của thế giới trong 10 năm có sự biến động nhưng sản lượng vẫn tăng đều qua các năm. Nhìn chung từ năm 2008 - 2017, diện tích bưởi tăng 133.761 ha và sản lượng tăng thêm hơn 6.000 tấn, năng suất cũng được tăng lên đáng kể bởi áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất bưởi. Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả. Theo số liệu thống kê của FAOSTAT (2019), tình hình sản xuất bưởi ở các châu lục trên thế giới được tổng hợp ở bảng 1.
Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế giới năm 2017 Diện tích thu Năng suất Sản lượng TT Quốc gia hoạch (ha) (tạ/ha) (tấn) 1 Thế giới 444.336 6 Châu Đại Dương 889 92,0 8.175 (Nguồn: FAOSTAT, 2019) Kết quả bảng 1.2 cho thấy: Trong năm 2017, châu Á là châu lục có diện tích trồng bưởi lớn nhất với 310. Đứng thứ 2 là châu Mỹ 73.842 ha, tiếp đến là châu Phi 58.817 ha, châu Âu 8.697 ha và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương với diện tích 889,0 ha (chiếm 0,20 % tổng diện tích bưởi của toàn thế giới). 7 Về năng suất, năm 2017 châu Á là châu lục có năng suất bưởi cao nhất với 365,9 tạ/ha, sau đó là châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và vùng có năng suất thấp nhất là châu Đại Dương với năng suất 92,0 tạ/ha. Châu Á cũng là châu lục có sản lượng bưởi cao nhất với 11.042,35 nghìn tấn chiếm 80,0 % tổng sản lượng của thế giới.
Sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có sản lượng thấp nhất là châu Đại Dương với 8,2 nghìn tấn chỉ chiếm 0,06% sản lượng bưởi của thế giới. Châu Á là cái nôi của cam quýt và cây bưởi, đây cũng là khu vực sản xuất bưởi lớn trên thế giới. Hầu hết các nước châu Á đều sản xuất bưởi với quy mô khác nhau. Cây bưởi được trồng nhiều ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippinnes, Việt Nam… Trong đó Trung Quốc là nước có diện tích trồng bưởi lớn nhất 95,86 nghìn ha, năng suất đạt cao nhất thế giới (493,8 tạ/ha) và sản lượng đạt 4.
Một số giống bưởi nổi tiếng: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quan Khê,… được Bộ Nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao. Năm 2008, riêng bưởi Sa Điền có diện tích đạt tới 30.000 ha, sản lượng 750. Ở Phúc Kiến, bưởi Quan Khê cũng đạt tới diện tích 40.000 ha và sản lượng 20. Tình hình sản xuất bưởi của một số nước châu Á năm 2017 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (1000ha) (tạ/ha) (1000tấn) Trung Quốc 95,86 493,8 4.733,45 Ấn Độ 14,92 235,9 352,00 Philippines 5,03 54,1 27,25 Thái lan 25,35 93,3 236,51 Bangladesh 7,77 84,4 65,56 Malaysia 0,89 146,2 13,04 Campuchia 0,32 102,7 3,29 Việt Nam 46,79 121,5 568,35 (Nguồn: FAOSTAT, 2019) Mặc dù số liệu thống kê chưa phản ánh đủ thực tế sản xuất bưởi tại các 8 nước vì diện tích cho thu hoạch thường thấp hơn diện tích trồng nhưng cũng có thể thấy năm 2017, Trung Quốc là nước có diện tích, sản lượng bưởi lớn nhất châu Á.
Thái Lan có diện tích trồng bưởi (đạt 25,35 nghìn ha), tuy nhiên do năng suất thấp (93,3 tạ/ha) lên sản lượng bưởi của Thái Lan chỉ đạt 236,51 nghìn tấn. Campuchia là nước có diện tích, sản lượng bưởi thấp nhất, diện tích trồng bưởi 320 ha, sản lượng đạt 3,29 nghìn tấn). Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam Cây bưởi là loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được xác định là một trong những cây ăn quả chủ lực trong việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Tuy nhiên, tình hình sản xuất bưởi ở nước ta chưa ổn định, mặc dù trình độ thâm canh được nâng lên, diện tích tăng (năm 2012: 37.791 ha) và sản lượng cũng tăng (năm 2012 đạt 437.352 tấn), song năng suất không ổn định.
Năm 2012 năng suất bưởi đạt 116,94 tạ/ha, năm 2014 tăng lên là 120,23 tạ/ ha. Năm 2015 lại giảm xuống còn 119,19 tạ/ ha và còn 118,12 tạ/ ha năm 2016.791 ha trồng bưởi. Đặc biệt trong giai đoạn 2012-2017 trong khi diện tích tăng không đáng kể thì sản lượng tăng từ 437. Hiện trạng sản xuất bưởi ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 1.
Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam giai đoạn 2012 -2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 2012 37.352 (Nguồn: FAOSTAT, 2019) 9 Như vậy đến năm 2017 cả nước có 46.791 ha trồng bưởi. Đặc biệt trong giai đoạn 2012-2017 trong khi diện tích tăng không đáng kể thì sản lượng tăng từ 437. Cho đến nay tập đoàn bưởi ở nước ta rất đa dạng, được trồng ở hầu khắp các tỉnh, đặc biệt đã hình thành những vùng bưởi lớn với những giống đặc trưng mang tính đặc sản địa phương, như: - Bưởi Diễn: Cây sinh trưởng khỏe, dạng quả tròn, võ nhẵn, khi chín vỏ có màu vàng cam. Sau trồng 7 năm cây sẽ cho chất lượng quả ổn định.
Năng suất trung bình 80 - 100 quả/cây. Thời gian cho thu hoạch từ tháng 12 - 1. Khối lượng quả trung bình 0,8 - 1kg. Tỷ lệ phần ăn được 60 - 65%.
Quả có thể bảo quản tự nhiên được 2 - 3 tháng (Viện nghiên cứu Rau Quả, 2017). - Bưởi đỏ Hòa Bình: Cây sinh trưởng khỏe. Khối lượng quả trung bình 0,8 - 1kg. Tỷ lệ phần ăn được 55 - 60%.
Múi và vách múi dễ tách rời nhau. Thịt quả màu đỏ hồng, mọng nước, ăn giòn ngọt không he đắng. Năng suất bình quân 150 - 200 quả/cây. Thu hoạch tháng 11.
Quả có thể bảo quản tự nhiên được 2 tháng (Viện nghiên cứu Rau Quả, 2017). - Bưởi Đại Minh: Thấp cây, lá tròn, tán rộng, cho quả sai, hình cầu dẹt. Mỗi quả nặng khoảng 1,2-1,5 kg, vỏ vàng, múi mỏng, tôm ngọt, mọng nước, ăn ngọt và có mùi thơm dịu. Bưởi Khả Lĩnh- Đại Minh chín tập trung vào dịp Tết Nguyên đán (Nguyễn Khắc Hùng, 2018).