Đặt vấn đề Dưa lê Hàn Quốc (Cucumis melon L.) thuộc họ bầu bí là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Giống dưa lê vàng Hàn Quốc chủ yếu được trồng nhiều ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Quả dưa lê Hàn Quốc được sử dụng chủ yếu để ăn tươi, ép nước quả. Dưa lê Hàn Quốc chứa nhiều vitamin C và khoáng chất quan trọng.
Mặc dù nhu cầu sử dụng khá lớn song diện tích trồng dưa lê Hàn Quốc trong cả nước còn đang rất ít. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là thiếu bộ giống tốt và kỹ thuật canh tác chưa đáp ứng cho các vùng trồng. Dưa lê Hàn Quốc mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các loại rau củ quả khác và đặc biệt cao hơn rất nhiều so với trồng lúa, có năng suất cao và kháng bệnh rất tốt. Dưa lê Hàn Quốc rất khó tính nếu canh tác ngoài đồng ruộng trời lạnh khó đậu quả, mưa quả dễ bị thối hỏng, đặc biệt là sâu bệnh hại khó kiểm soát, chất lượng quả trồng ngoài đồng ruộng kém hơn so với trồng trong nhà màng, nhà có mái che.
Hà Nội được hình thành từ châu thổ sông Hồng, nét đặc trưng của vùng địa lí thành phố Hà Nội là “Thành phố sông hồ” hay “Thành phố trong sông”. Nhờ các con sông lớn nhỏ đã chảy miệt mài hàng vạn năm đem phù sa về bồi đắp nên vùng châu thổ phì nhiêu này. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Hà Nội có đặc trưng nổi bật là gió mùa ẩm, nóng và mưa nhiều về mùa hè, lạnh và ít mưa về mùa đông; được chia thành bốn mùa rõ rệt trong năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời khá dồi dào.
Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 120 kcal/cm², nhiệt độ trung bình năm 24,9°C, độ ẩm trung bình 80 - 82%. Lượng mưa trung bình trên 1700mm/năm (khoảng 114 ngày mưa/năm). Với diện tích 3.358,6km2 và dân số 1 8,05 triệu người (thống kê năm 2019), Hà Nội là thành phố có diện tích lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là thành phố đông dân thứ hai và có mật độ dân số cao thứ hai trong 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam. Do vậy nhu cầu xử dụng sản phẩm nông nghiệp an toàn như rau quả ngày càng tăng và cấp thiết trong đó có sản phẩm dưa lê Hàn Quốc (Cucumis melon L.
Đứng trước vấn đề trên chúng tôi tiến hành triển khai để tài “Đánh giá sinh trưởng và năng suất của biện pháp canh tác cây dưa lê Hàn Quốc trong điều kiện nhà màng vụ xuân năm 2022 tại Đan Phượng, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến sinh trưởng, phát triển và năng suất trên cây dưa lê Hàn Quốc trong nhà có mái che tại Đan Phượng, Hà Nội từ đó góp phần xây dựng quy trình canh tác cho cây dưa lê Hàn Quốc. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây dưa lê Hàn Quốc trong nhà có mái che.
- Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế của cây dưa lê Hàn Quốc trong nhà có mái che. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, đặc điểm phân loại của dưa 2. Nguồn gốc Dưa lê có nguồn gốc ở Châu Phi, nơi các giống hoang dã được tìm thấy, tuy nhiên sự phân bố chính xác của các giống hoang dã không rõ ràng.
Dưa lê được thuần dưỡng ở miền đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á hơn 4000 năm trước. Dưa lê được đưa đến Ấn Độ, Trung Quốc, Afganistan và phổ biến ở Tây Ban Nha vào thế kỉ thứ 15. Dưa lê được trồng ở Anh vào thế kỉ 17 và đến thế kỉ 18 được trồng ở Châu Mỹ. Theo Kerje và Grum năm 2000 và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng dưa lê là cây trồng nhiệt đới.
Những đoàn lữ hành đã mang dưa đến các vùng ấm áp của Châu Phi. Các thương gia Châu Phi đã mang hạt dưa đến bán ở nhiều vùng của Châu Mỹ. Ở nước ta lịch sử trồng dưa đã có từ rất lâu và được trồng rộng rãi cho đến ngày nay. Theo nghiên cứu đa hình phân tử cho thấy các giống dưa Hàn Quốc có nguồn gốc từ dưa hấu loại nhỏ ở Đông Ấn Độ.
Người ta cũng cho rằng các giống này có nguồn gốc từ dưa hấu hoang dã ở Trung Quốc (Walters, 1989). Giống dưa lê này hiện nay đã được thuần hóa ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Phân loại Dưa lê (Cucumis melo) thuộc: Bộ (Cucurbitales), họ (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Quả dưa màu vàng với những đường trắng chạy ngang quả, thịt quả màu trắng.
Quả có thể giòn, hơi ngọt hoặc ngọt hơn khi để chín kĩ. Có tác giả phân loại chi Cucumis gồm 3 loại phân bố ở 2 vùng riêng biệt đó là: 1. Vùng Đông Nam Hymalayas, đây là vùng của nhóm dưa chuột Châu Á với 3 số nhiễm sắc thể cơ bản là n=7 2. Vùng Châu Phi và Trung Á gồm Châu Phi, Trung Đông, Trung Á trải dài từ Pakistan đến Nam Ả Rập với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản là n=12.
Vùng Châu Phi, một số loài đa bội (tứ bội, lục bội) trong đó có dưa thơm (musk melon) và dưa chuột bao tử (gherkin). Theo Munger và Roninson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo(1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào bảy nhóm như sau : 1. Agrestis : thân mảnh, lá cây đơn tính cùng gốc, đề u có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân, phát triể n như cỏ dại ở Châu Phi và các nước Châu Á. Quả rất nhỏ (<5cm) và không ăn được, cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ.
Cantalupensis : quả có kích thước trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín. Gồm có dạng reliculatus. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiể u gen, có lông ở bầu nhụy.
Inodorus : dưa lê mùa đông quả lớn, không thơm, bảo quản dài, cùi dày, mịn hay vân đốm. Bao gồm các loại dưa ngọt Châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường đơn tính và lưỡng tính, có lông trên bầu nhụy. Flexuosus : quả dài, không ngọt, ăn non như dưa chuột. Được tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thường có hoa đơn tính cùng gốc.
Makuwa : các giống vùng Viễn Đông, vỏ trơn, thịt mỏng, trắng, quả có vân nhỏ cùng gồm loại ngọt và loại ăn xanh giòn. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính. Lá có lông, nhụy có lông rất mịn. Chito và dudaim : được mô tả bởi Naudin nhưng được nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson.
Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy. Momordica : là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm 4 năm 1991 gồm các mẫu có nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng.Lim (2012) - Edible Medicinal and Non- Medicinal Plants dưa lê được chia thành 6 nhóm sau: 1. Cucumis melo cantalupensis: có nguồn gốc ở Châu Âu (Italya, Pháp), dưa có da thô và có nốt sần, được người Mỹ gọi là dưa đỏ. Cucumis melo makuwa: dưa lê Hàn Quốc.
Cucumis melo conomon: gồm dưa gang, dưa gang trái tròn, dưa gang trái dài. Cucumis melo reticulatus: dưa tây vàng, dưa cantaloupe. Cucumis melo indorus: dưa hoàng yến, dưa mật, dưa tây xanh, dưa tây, dưa xanh. Cucumis melo reticulatus: dưa vàng hami.
Đặc điểm thực vật học: - Rễ: Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi nên hệ rễ của chúng có thể ăn sâu, hút nước ở tầng đất sâu, có khả năng chịu hạn. - Thân: Thân dưa lê là cơ quan dinh dưỡng quan trọng của cây, làm nhiệm vụ vận chuyể n các chất hữu cơ từ lá xuống rễ và vận chuyể n các chất khoáng các chất dinh dưỡng từ rễ lên các bộ phận của cây. Các mẫu giống tham gia thí nghiệm đề u có nguồn gốc Hàn Quốc đề u thuộc dạng thân bò. Trên thân có nhiề u lóng, các mẫu giống khác nhau thì có số lượng lóng khác nhau.
Chiề u dài của lóng quyết định chiề u cao của cây. Dưa lê có khả năng phân nhánh ở ngay nách lá. Vị trí bắt đầu phân nhánh thường bắt đầu từ đốt thứ 2 của thân. Các nhánh trên thân chính được gọi là nhánh cấp 1.
Màu sắc, chiề u cao, số nhánh cấp 1 của dưa lê phụ thuộc vào từng giống và điề u kiện ngoại cảnh. - Lá: Lá là chỉ tiêu rất quan trọng giúp chúng ta nhận dạng các giống dưa lê khác nhau, ngoài ra lá còn là cơ quan quan trọng không thể thiếu của cây, nó tham gia vào quá trình quang hợp, biến đổ i năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học tích lũy trong chất hữu cơ. Lá dưa lê là loại 2 lá mầm, 2 lá mầm 5 đầu tiên mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng. Độ lớn của lá mầm khác nhau giữa các loài trong họ bầu bí, dưa lê thuộc loại lá nhỏ.
Người sản xuất thường quan sát độ lớn, sự cân đối tuổ i thọ của đôi lá mầm để dự đoán tình hình sinh trưởng của một số giống cụ thể. Các chỉ tiêu đường kính thân, độ dài lóng là những yếu tố quan trọng đánh giá tình hình sinh trường của cây (Tạ Thị Thu Cúc, 2005) [6 ]. Lá thật mọc cách trên thân chính, có độ lớn tối đa vào thời kì sinhtrưởng mạnh, ra hoa rộ. Lá có hình chân vịt, xẻ thùy sâu hoặc không xẻ thùy.
Trên lá và cuống có lớp một lớp lông, lớp lông này có tác dụng bảo vệ và chống thoát hơi nước. - Hoa: Hoa của các loài trong họ bầu bí tính đực cái thể hiện rất phức tạp. Trong họ bầu bí có 3 kiể u sắp xếp hoa cơ bản đó là hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính. Số lượng các loại hoa trên cây là khác nhau, nhiề u nhất là hoa đực, sau đó là hoa cái và cuối cùng là hoa lưỡng tính.
Hoa đực thường mọc thành từng chùm ở nách lá, hoa đực ra sớm hơn và ở vị trí thấp hơn hoa cái trên cùng một cây. - Quả và hạt: Quả có nhiề u hình dạng khác nhau tùy thuộc vào từng loại giống. Trong dưa lê có khoảng 500 – 600 hạt/ quả.