Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong cả nước đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loài cây rừng, đã đạt được một số kết quả bước đầu, mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng nguyên liệu ở nước ta. Giống là một khâu đặc biệt quan trọng trong các chương trình trồng rừng kể cả cho rừng kinh tế, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng cây phân tán. Công tác giống đóng vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho sản xuất nghề rừng được lâu dài, sớm phát huy tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường. Giống là một khâu quan trọng của rừng thâm canh.
Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao. Những loại rừng sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc duy trì những tính trạng tốt của loài cây rừng. Một trong số những phương pháp nhân giống duy trì được trọn vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho tới đời sau là nhân giống bằng hom. Nhân giống là bước cuối cùng của chương trình cải thiện giống.
Để giữ được đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng phương thức nhân giống sinh dưỡng, trong các phương thức nhân giống sinh dưỡng thì giâm hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây rừng, là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp trồng rừng với quy mô lớn, sản phẩm cuối cùng cho một số lượng lớn cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền. Nhân giống bằng hom là một trong những công cụ có hiệu quả cho chọn giống cây rừng. Song cần thấy rằng việc áp dụng nhân giống bằng hom chỉ là một công cụ của chọn giống, nó chỉ phát huy tác dụng tốt khi giống đã qua chọn lọc, khảo nghiệm cẩn thận, được chứng minh là hơn giống đại trà [2]. Họ Dầu một số tài liệu tiếng việt gọi là họ hai cánh có danh pháp khoa học là Dipterocarpaceae là một họ của 17 chi và khoảng 580-680 loài cây n 2 thân gỗ chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới vùng đất thấp với quả có hai cánh [15].
Nhiều loài là các loại cây nổi bật trong các cánh rừng, thông thường có thể cao tới 40-70 m, đôi khi cao trên 80 m. Các loài trong họ này có tầm quan trọng lớn trong việc buôn bán gỗ. Chúng phân bổ rộng khắp vùng nhiệt đới, từ miền bắc Nam Mỹ tới châu Phi, Seychelles, Ấn Độ, Đông Dương và Malesia, với sự đa dạng và phổ biến nhất ở miền tây Malesia. Một số loài hiện nay đang bị rơi vào tình trạng nguy cấp do kết quả của việc chặt hạ quá mức cũng như việc buôn lậu gỗ.
Chúng cung cấp các loại gỗ có giá trị, tinh dầu thơm, bôm, nhựa mủ cũng như làm gỗ dán. Cây Sao đen có tên khoa học là Hopea odorata, thuộc họ Dầu, tên tiếng Anh là Golden oak, là loài cây gỗ lớn thường xanh, thân thẳng, tròn thuôn, cao từ 20 – 30 m. Khi cây trưởng thành, vỏ nứt dọc, màu đen, lõi gỗ hơi đỏ. Tán lá rậm, hình chóp, cành nhánh khỏe, dài, mọc chếch.
Lá hình trái xoan thuôn, mép hơi gợn sóng, đáy tròn, đỉnh nhọn, mặt trên lá màu xanh bóng. Mặt dưới hơi bạc, có tuyến ở nách gân bên. Hoa mọc thành chùm, hoa nhỏ màu trắng. Quả có hai cánh, phủ lông mịn, dài 3-6 cm, lúc non xanh nhạt, lúc già chuyển qua nâu.
Do có nhiều tannin (15%) nên vỏ sao đen được dụng làm thuốc: Chữa đau răng, viêm lợi, áp xe, làm răng bền … Ở Ấn Độ nhựa cây được dùng làm thuốc cầm máu. Một số nơi ở Việt Nam, đã dùng vỏ sao đen ăn trầu. Sao đen được khai thác chủ yếu để lấy gỗ, gỗ Sao đen thuộc loại gỗ quý, không mối mọt thường dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc, làm sàn nhà, tà vẹt, đóng toa xe, tàu đi biển … Cây Sao đen có kích thước lớn cao, to, tán đẹp nên rất thích hợp để trồng làm cây đường phố, quanh các công trình lớn. Xuất phát từ thực tế tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất INDOLE-3-BUTANIC ACID đến khả năng hình thành cây hom sao đen (Hopea odorata Roxb) tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu Đề tài góp phần nhân giống cây con Sao đen cung cấp cho trồng rừng gỗ lớn, cây đô thị, làm đẹp cảnh quan, cải thiện cuộc sống. Mục tiêu nghiên cứu Xác định nồng độ thuốc IBA phù hợp kích thích ra rễ của hom cây Sao đen trong khoảng 300 ppm đến 750 ppm. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã được học. Đặc biệt là những kiến thức trong lĩnh vực lâm sinh như những kiến thức về hom giâm, xử lí hom giâm, kỹ thuật cắt hom, cắm hom,… Biết được quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hom từ lúc cắm hom đến lúc cây hom ra rễ.
Từ đó nắm vững được toàn bộ quá trình nhân giống bằng phương pháp giâm hom. Đồng thời qua quá trình nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa học tiến bộ vào thực tiễn sản xuất, qua đó đào tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi làm việc ở ngoài thực tế. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Sự thành công của đề tài này có ý nghĩa rất to lớn trong thực tiễn sản xuất vì đã tìm ra được nồng độ thuốc phù hợp nhất trong phương pháp nhân giống bằng hom giâm với loài cây Sao đen trong giới hạn thuốc 300ppm đến 700ppm. Từ đó có thể phổ biến kỹ thuật này cho người dân áp dụng nhằm tạo ra được cây hom với chất lượng tốt nhất.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh…[14]. Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu hình.
Sinh sản hữu hình là hình thức sinh sản mà trong đó có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội. Hợp tử phát triển thành cá thể mới. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác của sinh sản sinh dưỡng. Nhân giống sinh dưỡng là hình thức nhân giống dựa trên cơ sở hình thành của sinh sản sinh dưỡng.
Cây phân sinh được tạo ra từ một bộ phận cây mẹ bằng hàng loạt quá trình nguyên nhiễm nên có khả năng phát triển thành cây mới có đặc điểm di truyền giống cây mẹ. Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ. Vấn đề quyết định trong giâm hom là làm cho hom ra rễ, trong công thức thí nghiệm hom ra rễ càng nhiều thí nghiệm càng thành công. Cơ sở tế bào học Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sở quan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển của thực vật.
Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây. Cơ sở di truyền học Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quá trình nguyên nhiễm hay nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân để giâm hom. n 5 Kết quả nghiên cứu của một số tác giả đều đi đến một kết luận chung nhất là: Các loài cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau. Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3 nhóm [12].
Nhóm dễ ra rễ: Bao gồm các loại cây không sử dụng chất kích thích vẫn có tỷ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 29 loài như: Đa, Sung, Tre, Nứa… Nhóm khó ra rễ: Bao gồm các loài hầu như không ra rễ hoặc phải dùng chất kích thích ra rễ mà vẫn cho tỉ lệ ra rễ thấp, nhóm này gồm 26 loài như các chi: Malus sp, Prunus sp. Ở nước ta, Bách tán cũng thuộc loài rất khó ra rễ. Nhóm ra rễ trung bình: Bao gồm các loài chỉ sử dụng chất kích thích với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với nồng độ cao, nhóm này gồm 65 loài, trong đó có các chi Eucaluptus sp, Taus sp, Quercus sp … Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì thế theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là: Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom, cành: Gồm nhiều loại cây thuộc họ Dâu tằm, một số thuộc họ Liễu, với những loài cây này, khi giâm hom không cần xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường. Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt: Khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế bởi các mức độ khác nhau.
Những loài cây dễ ra rễ như Thông đỏ, 40-50 tuổi vẫn ra rễ 80-90%. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môi trường xung quanh quết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất. Quá trình phát triển của cá thể được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khác nhau. Trong sinh sản sinh dưỡng (giâm hom) cũng hay gặp hiện tượng Topophysis (hiện tượng bảo lưu cục bộ) đó là hiện tượng bảo lưu duy trì sự phát triển hình thái và đặc điểm sinh học của bộ phận được lấy làm vật liệu giống trong nhân giống sinh dưỡng, những cây con được tạo ra từ chồi ngọn sẽ mọc thẳng (hiện tượng này thường gặp ở chi Bách tán).