Nghiên Cứu Khả Năng Nhân Giống Bằng Hom Của Loài Sưa Đỏ (Dalbergia tonkinensis Prain)

Nghiên cứu khả năng nhân giống bằng hom loài sưa đỏ Dalbergia tonkinensis Prain tại Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Đá Chông, Ba Vì.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2012

158
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Lược sử nghiên cứu về nhân giống bằng hom

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

2.3. Giới hạn nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Địa chất, thổ nhưỡng

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Tìm hiểu ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng (IAA, NAA, IBA) đến kết quả giâm hom loài Sưa đỏ

5.2. Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra rễ của hom giâm loài Sưa đỏ

5.3. Ảnh hưởng của loại chất điều hòa sinh trưởng lên kết quả giâm hom loài Sưa đỏ

5.4. Ảnh hưởng của loại chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng rễ

5.5. Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng đến kết quả giâm hom loài Sưa đỏ

5.6. Ảnh hưởng của nồng độ các tỷ lệ ra rễ của hom giâm loài Sưa đỏ

5.7. Ảnh hưởng đến chất lượng rễ của hom giâm loài Sưa

6. CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ TỒN TẠI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỆU

Bảng 4.1. Các chỉ tiêu cơ bản của khu vực nghiên cứu

Bảng 5.3. Chất lượng bộ trong các công thức thí nghiệm

Bảng 5.5. Ảnh hưởng của các loại nồng độ đến chất lượng bộ rễ của hom giâm

Bảng 5.8. Tỷ lệ hom sống, tỷ lệ hom ra rễ, tỷ lệ hom chết, tỷ lệ hom không ra rễ có tỷ lệ các loại giá thể khác nhau

Ảnh 01. Cắm hom

Ảnh 02. Giâm hom vào bầu và luống cát

Ảnh 03. Vườn vật liệu cung cấp

Ảnh 04. Cây lấy hom

Ảnh 05. Hom sát ngọn

Ảnh 06. Hom ngọn

Biểu đồ 01. So sánh tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom trong công thức sử dụng IAA, IBA, NAA

Biểu đồ 03. So sánh tỷ lệ hom sống và tỷ lệ hom ra rễ được xử lý IAA ở nồng độ khác nhau

Biểu đồ 06. So sánh số rễ trên hom và chỉ ra nghiệm chọn loại hom giâm

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Nhân Giống Sưa Đỏ Dalbergia tonkinensis

Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis Prain), hay còn gọi là Trắc thối, là loài cây bản địa quý hiếm của Việt Nam. Gỗ sưa đỏ có giá trị kinh tế cao, được dùng làm đồ mộc cao cấp, dược liệu, và đồ mỹ nghệ. Cây còn có giá trị cảnh quan, thường được trồng làm cây bóng mát. Tuy nhiên, do khai thác quá mức, sưa đỏ đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Việc nghiên cứu nhân giống sưa đỏ là vô cùng cấp thiết để bảo tồn và phát triển loài cây này. Khó khăn lớn nhất hiện nay là số lượng cây mẹ còn lại ít, năng suất hạt thấp, và hạt giống khó nảy mầm. Nhân giống bằng hạt cũng gặp vấn đề chất lượng cây kém. Do đó, cần nghiên cứu kỹ thuật nhân giống sưa đỏ bằng phương pháp sinh dưỡng như giâm hom, chiết cành để tạo ra cây giống chất lượng cao.

1.1. Giá Trị Kinh Tế và Nguy Cơ Tuyệt Chủng Của Gỗ Sưa Đỏ

Gỗ sưa đỏ có giá trị kinh tế rất cao, đặc biệt là trên thị trường quốc tế. Giá gỗ sưa đỏ có thể lên tới hàng triệu đồng một kg, khiến nó trở thành mục tiêu của việc khai thác trái phép. Tình trạng khai thác quá mức đã đẩy sưa đỏ đến bờ vực tuyệt chủng, đòi hỏi các biện pháp bảo tồn khẩn cấp. Theo tài liệu, giá năm 2011 bình quân gỗ Sưa đỏ vào khoảng 4,4 triệu đồng/kg. Để khắc phục tình trạng này, cần bảo vệ những cây trong rừng tự nhiên và nghiên cứu để phát triển cây sưa đỏ.

1.2. Thách Thức Trong Nhân Giống Sưa Đỏ Bằng Hạt và Giải Pháp

Nhân giống sưa đỏ bằng hạt gặp nhiều khó khăn do hạt khó nảy mầm và chất lượng cây con thường kém. Do không có nguồn giống để tuyển chọn dẫn đến chất lượng cây thường kém, thân cong queo, đa thân. Vì vậy, nghiên cứu các phương pháp nhân giống sinh dưỡng như: nuôi cấy mô, chiết, ghép, giâm hom nhằm chọn và tạo giống Sưa đỏ có chất lượng hình thân tốt hơn việc làm cần thiết. Phương pháp giâm hom được xem là giải pháp tiềm năng để nhanh chóng tạo ra số lượng lớn cây giống chất lượng cao. Tuy nhiên, nhược điểm là đường kính và chiều cao của cây trồng bằng Hom thường nhỏ hơn so với cây trồng từ hạt.

II. Tổng Quan Nghiên Cứu Nhân Giống Hom Sưa Đỏ Lịch Sử và Cơ Sở

Nhân giống bằng hom đã được sử dụng rộng rãi trong lâm nghiệp trên thế giới trong hơn 100 năm. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện và có hệ số nhân giống cao. Nghiên cứu nhân giống hom sưa đỏ tại Trung Tâm Nghiên Cứu Giống Cây Rừng Đá Chông, Ba Vì là một bước quan trọng để áp dụng phương pháp này vào thực tiễn. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của giâm hom bao gồm đặc điểm di truyền của loài, điều kiện sinh thái, tuổi cây mẹ, vị trí cành lấy hom, kích thước hom, và điều kiện môi trường. Cần tối ưu hóa các yếu tố này để đạt hiệu quả cao nhất.

2.1. Lịch Sử và Kinh Nghiệm Nhân Giống Bằng Hom Trên Thế Giới

Trong Lâm nghiệp nhân giống sinh dưỡng cho/cây rừng đã được sử dụng cách đây trên 100 năm. Ngay từ những năm đầư ep kỷ.40 của thế kỷ 19, Marrier de Boisdyver (Người Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông đen. Ở Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu nhân giống cho các loài Bạch đản, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom đến năm 1986 đã cỗ khoảng 24.000ha rừng trồng bằng hom và các rừng này đạt Bing trưởng bình quân năm 35m/ha/năm. Nhân giống sinh dưỡng bằng giâm hom có thể coi một trong những hình thức nhân giống có hiệu quả trong chọn giống cây rừng, phương ,pháp này eó ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện, nhanh và có hệ số nhân giống cũng khá cao.

2.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Khả Năng Ra Rễ Của Hom Sưa Đỏ

Các yếu tố ảnh hưởng đến trong quá trình giâm hom về cơ bản chia làm nhóm: các nhân sinh và:các nhân ngoại sinh. Các nhân tố nội sinh bao gồm: đặc điểm di truyền của loài, điều kiện sinh thái của cây mẹ và cành lấy hom, kích thước hom, và lá trên hom. Các nhân tố ngoại sinh là: nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng. Sự tồn và của hom hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài. Nhiệt độ nhân quan trọng ảnh hưởng quá trình phân chia bào và quá trình sinh hoá của cây, dẫn đến sự hình thành và phát triển của hom.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Nhân Giống Sưa Đỏ Bằng Hom Tại Đá Chông

Nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Giống Cây Rừng Đá Chông tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng (IAA, NAA, IBA) đến khả năng ra rễ của hom sưa đỏ. Thí nghiệm được thiết kế để xác định loại chất điều hòa sinh trưởng, nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, và loại hom giâm phù hợp. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tốc độ ra rễ, tỷ lệ hom sống, chất lượng bộ rễ, và tỷ lệ hom chết. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình nhân giống sưa đỏ hiệu quả.

3.1. Ảnh Hưởng Của Các Chất Điều Hòa Sinh Trưởng Đến Giâm Hom Sưa Đỏ

Tim hiểu ảnh hưởng của các chất điều hoà sinh trưởng (IAA, NAA, IBA). Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng đến thời gian của hom đến kết quả giâm hom loài Sưa đỏ giâm loài Sưa đỏ 5. Ảnh hưởng của loại chất hoà sinh trưởng lên quả giâm hom loài Sưa đô. Ảnh hưởng của loại chất điều hoà sinh trưởng đến chat lượng 5. Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hoà hom loài Sưa đỏ. inh trưởng đến kết quả giâm.

3.2. Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Hiệu Quả Giâm Hom Sưa Đỏ

Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tốc độ ra rễ, tỷ lệ hom sống, hom chọn loại chất kích thích Bảng 5.3: Chất lượng bộ trong các công thức nghiệm chọn nông độ chất IAA®.5: Bang tinh thé hién anh hưởng của các ñồng độ.38 4 đến chất lượng bộ của hom giâm. chọn loại hom giâm na . Bảng 5.8: Bảng tính thể hiện tỷ hom sống, hom hom chết, hom không có ty loại giá thể khác nhau „45 chỉ số ra rễ.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Chất Điều Hòa Sinh Trưởng Tối Ưu Cho Sưa Đỏ

Kết quả nghiên cứu tại Đá Chông cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của các chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng ra rễ của hom sưa đỏ. Việc lựa chọn đúng loại chất và nồng độ phù hợp là yếu tố then chốt để nâng cao tỷ lệ thành công. Các thí nghiệm so sánh hiệu quả của IAA, NAA, và IBA ở các nồng độ khác nhau đã xác định được công thức tối ưu cho nhân giống sưa đỏ. Chất lượng bộ rễ cũng được đánh giá để đảm bảo cây giống có khả năng sinh trưởng tốt sau khi được trồng ra môi trường tự nhiên.

4.1. So Sánh Hiệu Quả Của IAA IBA NAA Trong Giâm Hom Sưa Đỏ

Biểu đề 01: So sánh hom sống và công thức sử dụng IAA, IBA, NAA. Biểu đồ 03: So sánh hom sống và hom được xử IAA nồng đ độ khác nhau. nghiém chon loai homgiâm Biểu đồ So sánh số rễ trên hom và chỉ nghiệm chọn loại hom giâm.

4.2. Nồng Độ Chất Điều Hòa Sinh Trưởng Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Rễ

ảnh hưởng đến chất lượng bộ .Chọn loại hom giâm na, Bảng 5.8: Bảng tính thể hiện tỷ hom sống, hom hom chết, hom không có ty loại giá thể khác nhau „45 chỉ số ra rễ. DANH MUC BIEU DO, HINH ANH Ảnh 01: Cắm hom. 18 Ảnh 02: Giâm hom vào bầu và luống Ảnh 03: Vườn vật liệu cung cấp HOI GGuccisieasasond „20 Ảnh 04: Cây lấy hom Ảnh 05: Hom sát ngọn.------ Ảnh 06: Hom ngọn.-----ccccrree

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Triển Vọng Nhân Giống Sưa Đỏ Tại Ba Vì

Quy trình nhân giống sưa đỏ bằng hom đã được hoàn thiện tại Trung Tâm Nghiên Cứu Giống Cây Rừng Đá Chông có tiềm năng lớn để ứng dụng rộng rãi. Việc sản xuất đại trà cây giống sưa đỏ chất lượng cao sẽ góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển loài cây quý hiếm này. Các kỹ thuật nhân giống tiên tiến khác như nuôi cấy mô cũng cần được nghiên cứu để đa dạng hóa phương pháp nhân giống và nâng cao hiệu quả. Việc kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất sẽ mang lại những kết quả bền vững.

5.1. Quy Trình Nhân Giống Sưa Đỏ Bằng Hom Hoàn Chỉnh Từ Đá Chông

Trình bày chi tiết về quy trình nhân giống hom hoàn chỉnh được đúc kết từ các nghiên cứu tại Đá Chông, từ khâu chọn cây mẹ, thu hái hom, xử lý hom bằng chất điều hòa sinh trưởng, giâm hom trong điều kiện tối ưu, và chăm sóc cây con đến khi đủ tiêu chuẩn xuất vườn.

5.2. Định Hướng Phát Triển và Bảo Tồn Nguồn Gen Sưa Đỏ

Bàn về các định hướng phát triển và bảo tồn nguồn gen Sưa đỏ, bao gồm việc xây dựng các vườn giống gốc, lưu giữ các giống Sưa đỏ quý hiếm, và nghiên cứu các phương pháp nhân giống tiên tiến để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của loài cây này.

19/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho những nghiên cứu thựcnghiệm sau này ở Việt Nam. Từ năm 1983 - 1984 eác thực nghiệm về nhân giống hom được tiến hành tại Viện Lâm nghi lệp nay là Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đối tượng nghiên cứu làMỡ (Manglietia glauca Danly), Lát hoa (Chukrasia tabularis A. Các n cứu này tập trung vào đặc điểm cấu tạo và giải phẫu của h tủa nhiệt độ, độ âm môi trường và các chất kích thích ra rễ đến tỷ ng và ra rễ của hom giâm. Cũng trong thời gian này Phân Viện Lâm nghiệp Việt Nam cũng có thực nghiệm giâm hom cho một số loài cây nhu Sao den (Hopea odorata Roxb), Dầu nước (Dipferocarpus dyeri Pierre) song nhìn chung các thí nghiệm còn hết sức giản đơn mang tính chất định tính vì không được bố trí theo các nguyên tắc của thống kê toán học.

Năm 1984 - 1985 thực hiện chương trình 04 — 09, Nguyễn Ngọc Tân và cộng 4 sự đã có thực nghiệm giâm hom với cây Sao đen (opea odorata Roxb), Dầu nước (Dipterocarpus dyeri Pierre) các nội dung hướng vào việc xác định ảnh hưởng cụ thể nồng độ xử lý đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm.[15] Từ thập kỷ 90 trở lại đây, Lê Đình Khả và cộng sự nghiên cứu giâm hom cho Keo 1a tram (Acacia auriculiformis Cunn), Keo tai tugng (Acacia mangium Willd), Keo lai (Acacia sp), Phi lao (Casufina. Các nghiên cứu này đã xác định được loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom, thời vụ và phương pháp xử lý: chồi nhằm lầm tăng tỷ lệ tạo thành cây khi giâm hom, Từ kết quả nghiên cứu này đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật nhân giống giâm hom hy vụ các chương trình trồng, rừng. Ngoài ra, một số loài cây quý hiếm nhự. Thông đỏ, Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz) cũng dien cứu và đạt kết quả.

Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng (Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) sau một thời gian nghiên cứu thực nghiệm đã thành công trong việc sản xuất cây hom Bach dan trang (Eucalytus comaldulensis) va Keo lai (Acacia sp) theo ké hoạch được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt trong 3 năm từ 1996 — 1998, để phục vụ cho chương trình trồng rừng thí điểm Keo lai (4cacia sp) ở 7 vùng, sinh thai chí trong cả nước. Tính đến cuối năm 1997, Trung tâm đã sản xuất khoảng 120.000 cay hom cho 60 ha rừng trồng. ản địa quí hiếm vừa phân bố rải rác, số lượng cá thể shoa quả không ổn định và năng xuất thấp. Do đó việc nhân giống ứng bằng phương pháp giâm hom là giải pháp tích cực nhằm phục vụ cho bảo tồn và mở rộng qui mô trồng rừng khôi phục lại nguồn tài nguyên quí hiếm này.

Một số loài cây quí hiếm đã được thử nghiệm nhân giống bằng hom và cho kết quả tốt như: Cây Pơ mu (Ƒokienia hodgihnsii Henry et Thomas), Cay Bach xanh (Calocedrus macrolepis Kurz), Cay Héng ting (Dacrydium elatum), Cay Bach ting (Podocarpus imbricatus), Cây Xá xị (Vù hương) (Cinnamomum parthenoxylon).[1S] Trong sản xuất bên cạnh việc chọn lọc các dòng tốt thì việc dùng biện pháp giâm hom nhằm lưu giữ và đưa ra sản xuất một số lượng lớn cây con dé phục vụ trồng rừng là giải pháp tích cực. Ngoài các loài phổ biến như Keo (Acacia), Bạch đàn (Euealupfus). các cơ sở sản xuấtđã tiến hành giâm hom thành công một số loài cây phục vụ trồng rừng sản xuất có giá trị cao như: Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông Caribae (Pinus caribaea Morelet). Cho tới nay việc nghiên cứu nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đối với một số cây rừng không, con yan đề khó khăn nữa nếu biết sử dụng loại hom, chất kích thích ra rễ và tạo được môi trường thích hợp.

Điều cần quan tâm ở đây phải có nhữẾt Hà, biết.nhất định về kỹ thuật, xây dựng các vườn vật liệu kết hợp chương trình chọn giống, đầu tư cho việc mở rộng qui mô tới các cơ sở sản xuất. Các loài cây quí hiếm như Bách xanh, Po mu và Sưa đỏ có khả năng phát triển tốt, nhưng nguồn hạt hiếm hoặe không có, không đủ đáp ứng đủ nhu cầu, do đó cần phát triển trồng rừng trên diện rộng bằng hom. Công nghệ giâm hom các loài cây trồng rừng sản xuất như Thông ba lá, Thông Caribê dễ dàng thực hiện; * tốn kém đầu tư vì có thể giâm trực tiếp vào bầu, không, ohh thiết sử dung chất kích thích ra rễ nếu tạo chdi va chon ó cần mở rộng và phát triển trồng rừng sản xuất các loài của phương pháp nhân giống bằng hom thi nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cành, nuôi cấy mô. Trong đó, nhân giống bằng hom là một phương pháp khá rẻ tiền nhưng lại có hệ số nhân giống lớn nên được dùng phổ biến trong nhân giống cấy rừng, cây cảnh và cây ăn quả.

Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây con mới gọi là cây hom, cây hom 6 có đặc tính di truyền như cây mẹ. Vấn đề có ý nghĩa quyết định đến giâm hom là các hom ra rễ có thân cây sẽ được hình thành từ chồi bên hoặc chồi bát định. Nếu sử dụng hom lá thì hom phải hình thành cả rễ và thân mới. Tuy nhiên, khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc nhiều vào đặc điểm di truyền của loài cây lấy làm giống, cũng như loại tế bào phân hoá của cay, do đó người ta phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng ra rễ.

š Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom về cơ bản chia làm 2 nhóm: các nhân tố n inh và:các nhân tố ngoại sinh. Nhóm các nhân tố nội sinh: a. Đặc điểm di truyền của loài. Đặc điểm di truyền của loài là đào tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ra rễ của hom, có những loài dễ ra rễ như Mia, Sắn.

Cũng có những loài khó ra rễ như Sến. Chẳng hạn, với. Bạch đàn trắng tỷ lệ hom ra rễ là 50 — 90% nhưng với Bạch đàn Euro tỷ lệ: k thường chỉ đạt từ 15— 35,5%. Ngay trong cùng một loài nhưng, hom được lấy từ các xuất xứ khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau.

Ở Bạch đàn trang (Eucalyptus camaldulensis) xuất xứVictoria cớ tÿ lệ hom ra rễ là 60%, xuất xứ GibbRiver tỷ lệ hom ra rễ đạt là 85%, xuất xứ ở Nghĩa Bình có tỷ lệ hom ra rễ chỉ đạt 35%. : Qe Dong ca ing có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ ở hom giâm. Ví dụ: Keo lai đòi cho tỷ lệ ra rễ lần lượt là 50,5% và 49,4% trong khi đó Kei và 33 cho tỷ lệ ra rễ tương ứng là 72,7% và 84,7%. Điều kiện sinh lý của cây mẹ.

Hom lấy từ cây mẹ sống trong điều kiện khác nhau cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom lấy từ cây mẹ sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh có khả năng ra rễ cao hơn hom lấy từ cây mẹ sinh trưởng kém. Hàm lượng Hidrat cacbon cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom, hom có hàm lượng Hiđrat cacbon cao có khả năng ra rễ tốt hơn. Tuỗi cây mẹ và cành lấy hom.

Khả năng ra rễ của hom giâm không những phụ thuộc vào đặc tính di truyền cây mẹ, điều kiện sinh trưởng của cây mẹ mà còn phụ thuộc tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy vật liệu hom, điều này có ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom, nhất là với loài khó ra rễ. Cây mẹ càng già thì tỷ lệ rarễ Càng giảm. Mỗi loài cây đều có ngưỡng tối đa ra rễ nếu hom lấy từ cấy mẹ quá giả thì khả năng ra rễ là thấp thậm chí là không có khả năng ra rễ. Tuổi cành lấy hom cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm, cành cm gid thì tỷ lệ ra rễ càng thấp, nhưng cũng phải chúý những cành quá non.

Vị trí cành lấy hom và loại hom.^ Hom lấy ở các vị trí khác nhau trên cây cũng có khả năng ra rễ khác nhau, ngay cả việc lấy hom ở các vị trí khác nhau trong cùng một cành tỷ lệ ra rễ cũng có sự chênh lệch. Do đó “cần xác định vị trí lấy hom thích hợp cho mỗi loài. Kết quả nghiên cứu của Lê Đình.Khả đối với loài Keo lá tràm (Acacia auriculiformis Cunn) và Keo tai tượng, (Acacia mangium Willd) cho thay rang tỷ lệ ra rễ của hom ngọn va hom. sát ngọn rất cao (93,3% — 100%), trong khi đó hom rễ và hom sát gốc tỉlệ ra xế thấp hơn (66,7% — 97,6 %).

Loại hom gững ảnh Fug tới sự ra rễ, trong cùng một cành hom lầy hom ở chồi đỉnh ơn cov ới lấy hom 6 chdi nach. Ngudi ta thudng chia hom ra lam 3 loai (0) gỗ mềm, hom gỗ cứng và hom nửa cứng, với mỗi loại cây có i cdn hom Ngoc lan lay hòm gỗ mềm tốt hơn). Nhìn chung, với các loài cây thì người ta lấy hom ở trạng thái nửa cứng (hay còn gọi là cành bánh tẻ) là tốt nhất. Ảnh hưởng của kích thước hom.

Đường kính và chiều dài hom cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm. Từ các kết quả nghiên cứu của D.A Komixarop (1964) với nhiều loại 8 cây cho thấy rằng hom có kích thước lớn tốt hơn hom có kích thước nhỏ, tuy nhiên hom quá lớn đặc biệt là với hom ngọn thường dễ bị mất nước và bị thối. Còn đối với hom quá nhỏ thì quá trình tích luỹ chất dinh dưỡng quá nhỏ không đảm bảo cho hom phát triển, hom thường yếu và thiếu sức sống. Chiều dài hom cũng ảnh hưởng tới khả năng ra rễ của hom, hom quá ngắn lượng dinh dưỡng không đảm bảo cho hom ra rễ, hom quá dài gây mat nước làm cây héo, ngoài ra còn gây lãng phí hom ở những loài cây quý hiểm.

Nhìn chung, hom nên để khoảng 2 - 3 chồi ngủ, đài"1Ö— 15cm. Như vậy kích thước hom cũng là vấn đề cần chú ý trong, giâm hom.[4,5]` Sự tần tại của lá trên hom. y Lá là cơ quan quang hợp để tạo ra chất hữu cơ cần thiết cho cây. Trong giâm hom, lá trên hom ảnh hưởng rất'n tới khả năng thành công.

Lá giữ vai trò tạo ra các mô phân sinh của rễ ở các hom cành chưa hoá gỗ, lá thoát hơi nước, khuyếch tán các chất Xích thích ra rễ của hom, lá là cơ quan điều tiết chất điều hoà sinh trưởng. Từ nam 1882, Sách— nhà sinh lý thực vật người Đức cho rằng: Chất điều khiển sự ra rễ được hình thành ở lá, rồi được dẫn truyền xuống. dưới thân cây và kích thích sự hình thành rễ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Khả Năng Nhân Giống Loài Sưa Đỏ (Dalbergia tonkinensis Prain) Tại Trung Tâm Nghiên Cứu Giống Cây Rừng Đá Chông - Ba Vì" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và kỹ thuật nhân giống loài cây quý hiếm này. Nghiên cứu không chỉ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nhân giống mà còn đề xuất các phương pháp tối ưu để bảo tồn và phát triển loài cây này, từ đó góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu tương tự trong lĩnh vực nhân giống cây trồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp giâm cành tại yên bái, nơi khám phá ảnh hưởng của các chất điều hòa đến sự phát triển của cây. Ngoài ra, tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom dâm bụt hibiscus rosa sinensis tại trường đại học nông lâm thái nguyên cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoàn thiện quy trình ra ngôi cây dược liệu ba kích tím morinda officinalis how, một nghiên cứu khác liên quan đến quy trình nhân giống cây dược liệu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nhân giống cây trồng.