mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp sau này ở Việt Nam. Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành tại Viện Lâm nghiệp (nay là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), đối tượng nghiên cứ là loài Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứ tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường, và xử lý các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm [12]. Trong những năm 1990 trở lại đây, Lê Đình Khả và cộng sự đã nghiên cứu giâm hom cho Keo lá tràm, Keo tai tượng,… đã đạt kết quả, các thí nghiệm về loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom, thời vụ và phương pháp xử lý chồi cũng được thực hiện. Từ kết quả của nghiên cứu này đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hom, phục vụ cho các chương trình trồng rừng.
Ngoài ra, một số loài cây quý hiếm như Thông đỏ, Bách xanh cũng được nghiên cứu và đạt kết quả. Trong kỹ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, điều kiện khí hậu từng nước, thời vụ giâm và giống đem giâm, loại cành. Những nền giâm (giá thể) hiện nay là sử dụng cát thô, than bùn, sơ dừa, 9 đất, các chất vô cơ như Vani calete (hợp chất chứa Mica) peclite (đá chân trâu) dung nhan phun thạch núi lửa… Nếu chỉ giâm để cây hom ra rễ mới giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt ở vườn ươm. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng trong các ruột bầu khác nhau, tại Đông Nam bộ cho thấy: Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 74,1%.
Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 72,1%. Nếu ruột bầu là 50% sơ dừa + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 69,3%. Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%. Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%.
Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5%. Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau [5]. + Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm. Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp.
Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA). Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với 1 loại chất kích thích, nồng độ chất kích thích, thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom cũng khác nhau. + Loại chất kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự ra rễ của hom. Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lý bằng IAA, IBB, NAA nồng độ 50 ppm 10 trong 3 giờ có tỷ lệ tương ứng là: 74,1%; 93,8%; 53,3% [7].
Cùng 1 loại chất nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của hom, nồng độ xử lý quá thấp không có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao làm cho hom thối rữa trước khi ra rễ. Hom Bạch đàn trắng (E.Cameldunensis) 4 tháng tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm; 50 ppm; 75 ppm; 100 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 64,5%; 71,4%; 77,4% và 45,1% [3]. Như vậy khi nồng độ tăng tỷ lệ ra rễ tăng, nhưng khi nồng độ tăng quá cao (100 ppm) tỷ lệ ra rễ lại giảm xuống. Hom cây Mỡ 1 năm tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm tỷ lệ ra rễ giảm xuống còn 50%.
+ Thời gian xử lý thuốc: Cùng loài thuốc, cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau cũng cho kết quả khác nhau. Hom bạch đàn trắng xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm trong thời gian 1; 3; 5; 8 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 83,6%; 93,7%; 62,5%; 53,1%. Với hom Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm với thời gian 3; 5; 8; 16 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là: 74%; 81,3%; 73% và 55,7% [6]. + Nghiên cứu nhân giống cây Dầu rái bằng hom, tác giả đã sử dụng thuốc bột và thuốc nước cho của cùng một loại, cho kết quả là tỷ lệ ra rễ đối với thuốc bột là 80%, thuốc nước là 78,3% [4].
Khi xử lý hom bằng chất kích thích ra rễ cần biết rằng nồng độ và nhiệt độ không khí có mối quan hệ qua lại với nhau. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc IAA và IBA đến tỷ lệ ra rễ của hom cây Phay, tác giả đã chỉ ra rằng: Dùng thuốc IAA, IBA có nồng độ 300ppm, 450ppm, 600ppm, 750ppm, 900ppm đều kích thích hom cây Phay cho tỷ lệ ra rễ cao hơn không dùng thuốc. Tuy nhiên ở các nồng độ thuốc khác nhau cho tỷ lệ ra rễ khác nhau. Cả 2 loại thuốc IAA, IBA ở nồng độ 11 750ppm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, nhưng thuốc IBA cho tỷ lệ ra rễ (95,56%) của hom cây Phay cao hơn IAA (86,67%), Lê Sỹ Hồng (2015) [2].
Thuốc kích thích ra rễ IBA sau khi xử lý đã làm tăng đáng kể tỷ lệ ra rễ của hom Phay lên đến 3,45 - 7,82 lần (42,22 - 95,56%); thuốc IAA 2,73- 7,1lần (33,33-86,67%) so với không dùng thuốc kích thích ra rễ (12,22%). Loại hom cũng ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm, nghiên cứu loại hom ngọn, hom giữa và hom gốc cành của cây Phay, tác giả đã chỉ ra rằng: Loại hom ngọn cho tỷ lệ ra rễ cao nhất (81,11 %), cao gấp 2,36 lần hom giữa (34,44%), cao gấp 14,6 lần hom gốc (5,56%), Lê Sỹ Hồng (2015) [2]. Độ dài hom cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, nghiên cứu về 3 mức độ dài hom giâm: 4cm, > 4-6cm, > 6-8cm đến tỷ lệ ra rễ của hom cây Phay, tác giả đã chỉ ra rằng: Tỷ lệ ra rễ của hom dài > 6-8cm là cao nhất, cao gấp 1,35 lần hom dài > 4-6cm và cao gấp 1,63 lần hom dài 4cm. Lê Sỹ Hồng (2015) [2].
Tổng quan địa điểm nghiên cứu Vị trí địa lý Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau: Phía Bắc giáp với phường Quán Triều. Phía Nam giáp với phường Tân Thịnh. Phía Tây giáp với xã Phúc Hà. Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đặc điểm khí hậu, thời tiết Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thành phố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phố Thái Nguyên. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa 12 nóng ẩm và mùa khô lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22- 25 oC, chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 2-5 oC, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39 oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 oC. Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời gian thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên Thời gian Trung Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Chỉ tiêu bình Nhiệt độ (0C) 15 – 19 19 – 25 21 – 27 18 – 24 Độ ẩm (%) 70 – 75 78 – 83 79 – 84 76 – 81 (Nguồn: Trạm khí tượng, thành phố Thái nguyên) 2.
Tổng quan về loài cây Dâm bụt Dâm bụt, tên khoa học là Hibiscus rosa-sinensis thuộc họ thuộc họ Bông hoặc Cẩm quỳ (Malvaceae). Dâm bụt (vùng ven biển Bắc Bộ gọi râm bụt; Nam bộ gọi là bông bụp, bông lồng đèn, còn có các tên gọi khác mộc cận, chu cận, đại hồng hoa, phù tang, phật tang. Dâm bụt là loài cây bụi thường xanh có nguồn gốc Đông Á. Nó thường được trồng làm cây cảnh tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Hoa lớn, màu đỏ sậm nhưng ít có hương. Nhiều giống, thứ, lai được tạo ra, với màu hoa khác nhau từ trắng tới vàng và cam, hồng, đỏ tươi, với cánh đơn hay cánh đôi. Đặc tính sinhhọc Ở Việt Nam, cây được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam, Dâm bụt là một sự thay thế hoàn hảo cho liễu khi trồng viền các bờ nước. Hiện tại ở các tỉnh phía Bắc cũng đã phát triển rộng rãi loài cây này.
13 Đất và độ ẩm: Cây thích nghi hầu hết các loại đất. Cây có mức độ sinh trưởng trung bình, phát triển tốt trong điều kiện ẩm ướt thích hợp trồng ở đất ẩm ven suối, ao hồ hoặc các vùng nước khác. Ánh sáng: Cần đầy đủ ánh sáng mặt trời, cây sẽ bị ốm yếu và kém phát triển trong điều kiện quá râm. Dâm bụt là cây gỗ có cành mảnh mai, trong mùa mưa bão cần chú ý vấn đề gãy cành nhánh.
Kỹ thuật trồng: Cây Dâm bụt chăm sóc trong 2 năm đầu, mỗi năm 2 – 3 lần làm cỏ xới đất, vun gốc. Mỗi năm bón thúc một lần với liều lượng 0,5kg phân rong biển và 50g phân vi sinh cho 1 gốc. Chú ý không trồng cây gần hệ thống cống rãnh, các đường ống thoát nước Chú ý phòng và chống bệnh thường gặp Bệnh đốm lá, bệnh nhện đỏ, rệp sáp đỏ, trùng vỏ cứng. Vào tháng 5 có thể phun dung dịch Bodeaux 0,5 đến 1% để chữa bệnh đốm lá.
Các loại sâu có hại chủ yếu có nhện đỏ, rệp sáp đỏ, trùng vỏ cứng, hoặc có thể dùng dung dịch Dimethoate pha loãng với tỷ lệ 1 : 1. Vào mùa hè khi nhiệt độ cao, đặc biệt phải chú ý đến công tác phòng trừ sâubệnh. Triển vọng: Là một trong những loại cây được sử dụng nhiều trong các công trình, , khuôn viên văn hóa, sân vườn biệt thự, tiểu cảnh… Cây được trồng thành hàng hay trồng kết hợp với các loại cây trồng viền, cây cỏ nền tạo cảnh quan xanh thuhút.