Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về cây Tam thất hoang Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng) hay Sâm Tam thất hoang thuộc họ Nhân Sâm (Araliaceae). Đặc điểm: Cây thân thảo sống nhiều năm; thân dài, mọc bò, rải rác có đốt phình tròn; rễ hình sợi nhỏ, không phình to thành chất thịt. Thân cao 30 - 50cm, Lá kép chân vịt, mọc vòng ở ngọn, mép khía răng cưa, xếp 2-3 cái ở thân ngọn, lá chét 5-7, dạng màng mỏng, hình bầu dục, mép xẻ thuỳ dạng răng, dài 5-9cm, rộng 2-4cm, chóp có mũi dài, gốc hình nêm men xuống, trên các gân của mặt trên rải rác có lông cứng, mặt dưới thông thường không lông; cuống lá chét dài đến 2cm.
Cụm hoa dạng tán đơn ở ngọn, có khi có một tán nhỏ mọc đối ở phía dưới; hoa nhỏ màu lục nhạt, đài có mép chia 5 răng; cánh hoa 5; 5 nhị, bầu hạ, 2 ô, ít khi 3 - 4 ô, tách ra hoặc dính nhau ở phần gốc, phần giữa trở lên rời nhau, ở đỉnh có những chấm đen. Quả hình cầu đến hình cầu dẹt khi chín màu đỏ. Hạt 2, nếu chỉ có một hạt là hạt kia bị lép. Hạt gần hình cầu hoặc gần giống hạt đậu; màu xám trắng; vỏ cứng, có rốn hạt.
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-5, quả tháng 5-10. Gieo giống tự nhiên từ hạt. Quả chín chim thường ăn (bỏ hạt), hạt rơi xuống lại bị một loài sóc nâu nhỏ ăn nhân hạt. Toàn bộ phần thân mang lá tàn lụi vào mùa đông, đến đầu mùa xuân năm sau từ đầu mầm thân rễ sẽ mọc lên các chồi thân mới.
Tam thất hoang đặc biệt ưa ẩm và ưa bóng; mọc rải rác trong rừng kín thường xanh núi cao, ở độ cao 1. Phân bố: Phân bố nhiều nơi ở Trung Quốc (Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Thiểm Tây và Tây Tạng); ở nước ta chỉ gặp ở vùng Sa Pa tỉnh Lào Cai, núi Hoàng Liên Sơn [6]. Rễ củ mập chắc, chứa nhiều hoạt chất, vị hơi đắng và có mùi thơm riêng của tam thất. n 18 Trong thân củ có chứa các hoạt chất: Sapomin: Arasapomin A và Arasapomin B.
Arasapomin A là chất bột tan trong rượu metylic, etylic và amylic. Giá trị: Theo Đông y, và kinh nghiệm dân gian củ Tam Thất hoang vị đắng, tính ôn, vào 2 can và vị [2]. Có tác dụng cầm máu, lưu thông máu, chống ứ trệ tiêu hủy dùng để điều trị thổ huyết (ho ra máu), chảy máu cam, lỵ ra máu, đẻ xong máu có mùi hôi, cơ bắp va chạm mạnh có nốt bầm xuất huyết, bị đánh bầm tím cục bộ, ù tai chưa rõ nguyên nhân dùng bột tam thất uống với mật ong rất tốt. Dùng bột Tam Thất hoang rắc hoặc đắp lên nơi chảy máu để cầm máu, giảm đau, chống viêm, bồi dưỡng cơ thể khi suy nhược, sụt cân trong lao tâm, lao lực chưa rõ nguyên nhân, mới ốm khỏi, tăng sức đề kháng sau phẫu thuật nhất là với bỏng, chấn thương, chữa chậm kinh, đau bụng khi có kinh, đầy bụng ăn không tiêu.
Đặc biệt với phụ nữ sau khi sinh…[16]. Liều lượng dùng: Bột củ Tam Thất hoang xay mịn dùng từ 4g-8g, trung bình 6g, pha với nước sôi để nguội thêm 1-2 thìa mật ong rồi uống hàng ngày. Hoặc ngâm rượu tam thất dùng cho những bệnh nhân đau nhức xương khớp, đau lưng (chống chỉ định với bệnh nhân cao huyết áp). Người ta còn dùng ngâm rượu Tam Thất hoang với củ đinh lăng lại càng tốt và quý [3].
Là loài thực vật hoang dại hữu ích có nguồn gốc từ vùng ôn đới và cận nhiệt đới, Hoàng Liên Sơn là điểm phân bố cuối cùng về phía Nam của chúng [4]. Cây Tam thất hoang cần được nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan và khoa học. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1.
Công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hữu ích Năm 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích đã được tố chức ở Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 n 19 chuyên gia y tế và bảo tồn cây cỏ đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới (trừ Australia và Nam Mỹ). Kết quả là "Tuyên ngôn Chiang Mai" (Chiang Mai declaration) đã ra đời, bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng của thực vật hoang dại hữu ích trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra các loại thực phẩm và thuốc mới [1]. Đồng thời báo động về việc mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hoá trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm loài hoang dại hữu ích mới mang lại lợi ích toàn cầu. Nhằm bảo tồn các nguồn đa dạng sinh vật cũng như tạo ra và duy trì mối quan hệ hợp tác, bảo vệ quyền lợi của các quốc gia trong việc bảo tồn và phát triển các nguồn lợi đa dạng sinh vật, đã có 3 công ước toàn cầu được ký kết là Công ước đa dạng sinh học (CBD), Công ước về chống buôn bán các loài động thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt (CITES), Công ước Ramsa về bảo vệ đất ngập nước và chim di cư.
Với công ước CBD, lần đầu tiên thế giới đã chuyển các nguồn tài nguyên sinh học từ một di sản chung của nhân loại thành tài sản quốc gia. Mặc dù vậy, hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học (trong đó có thực vật hoang dại hữu ích) đang gặp phải mối thách thức kép là: (i) mối thách thức của bản thân việc bảo tồn đa dạng sinh học, (ii) bảo vệ tri thức truyền thống về sử dụng các nguồn tài nguyên khỏi sự khai thác mang tính chất thương mại trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, (iii) phát triển các sản phẩm từ đa dạng sinh học và bản quyền tri thức cộng đồng. Nghiên cứu về gây tạo, sử dụng thực vật hữu ích * Nghiên cứu và phát triển trồng thực vật hoang dại hữu ích bao gồm: (i) thiết lập các vườn ươm thực vật hoang dại hữu ích, (ii) cải thiện mặt nông học các loài thực vật hoang dại hữu ích có nhu cầu nhưng chưa được trồng trước đây, (iii) chọn tạo các giống thực vật hoang dại hữu ích thuần chủng, có năng suất và chất lượng cao, (iv) hạn chế sử dụng thuốc hóa học trong trồng thực vật hoang dại hữu ích, (v) đào tạo và cung cấp thông tin về kỹ thuật n 20 trồng trọt thực vật hoang dại hữu ích, đặc biệt là cho cộng đồng. Cải tiến kỹ thuật thu hái, bảo quản, sử dụng và sản xuất hàng hóa.
* Nghiên cứu tri thức sử dụng cây cỏ truyền thống trong việc chăm sóc sức khỏe của các cộng đồng, trong đó Thực vật dân tộc học đóng vai trò quan trọng. Nội dung hoạt động bao gồm: (i) xác định và hỗ trợ một tổ chức để xây dựng kế hoạch, điều phối và tiến hành điều tra về thực vật dân tộc học. (ii) tiến hành điều tra sử dụng cây cỏ làm thuốc trên qui mô toàn quốc bằng nhóm nghiên cứu đa ngành và với sự tham gia thực sự của những người hành nghề y truyền thống ở địa phương, (iii) phân loại và phân tích dữ liệu về thực vật dân tộc học qua chương trình điều tra, (iv) đưa các phương thuốc cổ truyền đã được chứng minh vào các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu của quốc gia, (v) thành lập tổ chức của những người hành nghề y truyền thống ở cấp quốc gia để tham gia vào hoạt động chăm sóc sức khỏe. Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích phải được sử dụng một cách bền vững, an toàn thông qua cơ chế: (i) Nhà nước điều hòa hoạt động thu hái, khai, thác thực vật hoang dại hữu ích từ hoang dại, (ii) nghiêm cấm thu hái các loài thực vật hoang dại hữu ích đang bị đe doạ, (trừ việc thu thập vật liệu nhân giống với lượng nhỏ, theo cách không làm nguy hại đến, loài thực vật hoang dại hữu ích đó) (iii) kiểm soát hoạt động buôn bán thực vật hoang dại hữu ích và các sản phẩm của chúng.
Nghiên cứu về giâm hom Trong Lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử dụng trên 100năm nay. Ngay từ 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã ghép 10000 cây Thông Đen.H công bố công trình nhân giống một số loài cây lá kim và cây lá rộng thường xanh bằng hom. Ở Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu chương trình nhân giống cho Bạch đàn, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom, đến n 21 1986 có khoảng 24000ha rừng trồng bằng cây hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35m3/ha/năm. Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là ACFTSC), những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất cây hom được tiến hành ở các nước Đông Nam Á.
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada[25] đã có những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệ thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loài cây họ Dầu, với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổicó thể sản xuất 200.000 cây hom, đủ trồng 455 đến 500 ha rừng [29]. Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia [27], ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị về nhân giông sinh dưỡng cây họ Dầu. Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của các cây họ Dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như: các biện pháp vệ sinh tốt hơn, che bóng hiệu quả hơn, phun xương mù, kỹ thuật trẻ hóa cây mẹ,. thì tỷ lệ ra rễ được cải thiện (ví dụ: Hopea odorta có tỷ lệ ra rễ là 86% [28], Shorea Leprosula 71%, Shorea Parvifolia 70%,.
Ở Indonesia, các nghiên cứu giâm hom cây họ Dầu được tiến hành tại trạm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giống mới “Tắm bong bóng” [30], sử dụng phương pháp này thu được tỷ lệ ra rễ 90- 100% với các loài Shorea Leprosula,. Nghiên cứu về cây Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng) Các loài Tam thất nói chung chỉ thấy ở Trung Quốc, mọc hoang và được trồng từ lâu đời tại các miền ôn đới có độ cao trên 1.200m (so với mặt n 22 biển), như các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Tây và Vân Nam.