Đặt vấn đề Rừng vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và tài nguyên rừng là một vấn đề cấp thiết hàng đầu đã và đang được thực hiện. Bảo vệ rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến tranh đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị hủy hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra. Trong những năm qua của thế kỉ XX, do nhiều nguyên nhân rừng nước ta vẫn trong tình trạng suy giảm về chất lượng, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp.
Theo số liệu điều tra của viện quy hoạch rừng năm 1945 diện tích rừng tự nhiên nước ta là 14 triệu ha tương đương với độ che phủ là 43%, đến năm 1990 diện tích rừng tự nhiên nước ta chỉ còn 9,175 triệu ha, tương đương độ che phủ là 27,2 %. Nguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh, đốt rừng làm rẫy, khai thác rừng bừa bãi. Từ khi chính phủ có chỉ thị 268/TTg (1996) cấm khai thác rừng tự nhiên nên tốc độ rừng phục hồi đã trở nên khả quan hơn. Đến năm 2012 tổng diện tích rừng cả nước ta là 13,862 triệu ha trong đó 10,423 triệu ha là rừng tự nhiên đến năm 2015 độ che phủ rừng của việt nam là 42%.
Từ đó rừng cũng dần cung cấp cho con người nhiều sản phẩm hơn, duy trì sự phát triển của động thực vật có giá trị kinh tế cao. Đồng thời rừng còn là một thế mạnh của khu vực miền núi trung du. Ngày nay Đảng và nhà nước đã tạo mọi điều kiện để thu hút người dân sống trong và gần rừng tham gia bảo vệ rừng và trồng rừng. Để bảo vệ nguồn gen cũng như làm cho rừng giàu thêm và phục hồi lại nhằm phủ xanh đồi núi trọc.
e 2 Với địa thế tự nhiên nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa đã hình thành nên kiểu rừng nhiệt đới nhiều tầng tán, cây cối xanh tốt quanh năm động thực vật rừng rất phong phú đa dạng cả về loài và số lượng, nó không chỉ làm giàu thêm cho rừng mà còn góp phần làm tăng khả năng cũng như tác dụng phòng hộ của rừng, cải tạo đất, chống xói mòn rửa trôi, bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm. Để trồng rừng thành công, đạt hiệu quả cao, một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định là giống, cây con đem trồng phải đảm bảo không sâu bệnh hại không những về số lượng mà cả về chất lượng. Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp ruột bầu và sâu bệnh hại. Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm, tuy nhiên mỗi loài cây phù hợp với thành phần ruột bầu khác nhau.
Thực tế có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột bầu và được áp dụng cho một số loài cây đã sử dụng để trồng rừng trong cả nước. Đặc tính chống chịu sâu bệnh của mỗi loài cây cũng khác nhau. Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây Tông Dù (Toona sinensis (A. Juss) Roem) giai đoạn vườn ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức hỗ hợp ruột bầu khác nhau trong quá trình sinh trưởng của cây Tông Dù, có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình sinh trưởng của cây Tông dù trong giai đoạn vườn ươm, và tìm ra một số biện pháp kỹ thuật phù hợp trong chăm sóc cây Tông Dù trong giai đoạn vườn ươm. Cây Tông Dù là loài cây có khả năng chịu hạn tương đối tốt và có sức sinh trưởng nhanh nhưng chưa được chú trọng nghiên cứu vậy nên tôi quyết định chọn cây Tông Dù để thực hiện đề tài của mình. Mục đích nghiên cứu Góp phần tạo giống cây Tông Dù phục vụ trồng rừng sản xuất cây gỗ lớn. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được công thức hỗn hợp ruột bầu phù hợp cho sinh trưởng của cây Tông Dù giai đoạn vườn ươm.
Ý nghĩa nghiên cứu - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. + Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất biết áp dụng lý thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để áp dụng vào công việc sau này. + Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kĩ thuật gieo ươm cây Tông Dù. - Ý nghĩa trong thực tiễn + Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầu với công khi gieo ươm cây Tông Dù.
+ Qua đây tìm được công thức phân bón thích hợp nhất cũng như tỷ lệ phân cho sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm. Đồng thời có thể phổ biến công thức này cho bà con cùng áp dụng. + Đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con ở giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo chất lượng tốt.
e 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Theo bộ lâm nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác với chúng. Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai. Các loại phân bón hóa học được chăm sóc cây con trong thời gian ngắn.
Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bênh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón. -Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây. Đất tốt cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng - chất lương quả hạt cao, chu kì sai quả ngắn và ngược lại. Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N, P, K … và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỷ lệ thích hợp.
Trong gieo ươm: - Điều kiện đất đai: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay xấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng nước và không khí cho cây. Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định. + Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng e 5 cần căn cứ và đặc tính sinh học của loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt.
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận thân, rễ, cành, lá phát triển cân đối. + Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt.
Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho đất cát pha ở độ sâu là 1,5-2m, đất sét là trên 2,5m. Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước. + Nước: Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm.
Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng. Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây Tông Dù. Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng. Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm, kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí.
Vì thế, việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho cây non ở vườn ươm là việc làm rất quan trọng (Larcher, 1983; Nguyễn Văn Sở, 2004)[8]. + Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm của hạt giống và sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ pH trung tính, cá biệt có loài ưa chua như Thông, ưa kiềm như Phi lao. e 6 - Sâu bệnh hại: Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có các nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi còn dẫn đến thất bại hoàn toàn. Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp xử lý đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm tại những nơi bị nhiễm sâu bệnh nặng.
Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là nhân giống từ hạt. Để cây con phát triển tốt trong giai đoạn vườn ườm nhân tố rất quan trong tới sinh trưởng của cây đó là hỗn hợp ruột bầu. Theo Nguyễn Văn Sở và Trần Thế Phong (2003)[7], thành phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng cây con trong vườn ươm. Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khoẻ mạnh và nhanh.