Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL của các ngân hàng thương mại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đoàn Việt Hùng thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Trung, hoàn thành vào tháng 1 năm 2020.

Về tính cấp thiết của nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới đã đẩy mạnh đa dạng hóa danh mục đầu tư sang các dịch vụ phi truyền thống nhằm giảm thiểu rủi ro từ hoạt động tín dụng. Thu nhập ngoài lãi (TNNL) đã chiếm hơn 40% thu nhập hoạt động trong ngành ngân hàng quốc tế kể từ đầu những năm 2000 (DeYoung và Rice, 2004). Tỷ lệ TNNL trên tổng thu nhập trung bình của hệ thống ngân hàng châu Âu đạt 34,1% giai đoạn 2002-2007, trong khi tại châu Á giai đoạn 1995-2009 con số này đạt 65%.

Tại Việt Nam, sự phát triển của công nghệ thông tin và áp lực cạnh tranh gia tăng sau hơn 30 năm đổi mới đòi hỏi các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) phải chuyển dịch cơ cấu thu nhập. Sau khi hoàn thành giai đoạn tái cơ cấu 2011-2015 theo Quyết định số 254/QĐ-TTg, ngành ngân hàng tiếp tục thực hiện Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/08/2018 phê duyệt chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đặt mục tiêu đến cuối năm 2020 gia tăng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng với mức tăng khoảng 12 - 13%. Trong khi đó, tỷ lệ này tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2011-2017 bình quân đạt 20,48% (năm 2017 đạt 23,31%). Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thắt chặt chính sách tiền tệ với mức tăng trưởng tín dụng năm 2018 đạt khoảng 14% và định hướng năm 2019 dưới 16%, kết hợp cùng yêu cầu thực hiện an toàn vốn theo chuẩn mực Basel.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước trước đây chưa đạt được sự thống nhất về chiều hướng tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến TNNL; đặc biệt tại Việt Nam, chưa có công trình nào kiểm định mối quan hệ giữa yếu tố cạnh tranh thị trường với TNNL và chưa có nghiên cứu nào đưa chỉ số quản trị cấp quốc gia (Governance Index) của World Bank vào mô hình phân tích.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định các yếu tố tác động và ước lượng mức độ tác động của các yếu tố đến TNNL của các ngân hàng thương mại Việt Nam; từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm gia tăng TNNL cho các ngân hàng này.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích thực trạng đa dạng hoá hoạt động và TNNL của các NHTMCP Việt Nam.
    2. Xác định chiều hướng tác động và ước lượng mức độ tác động của các yếu tố đến TNNL của các NHTMCP Việt Nam.
    3. Đề xuất các khuyến nghị nhằm gia tăng TNNL, qua đó nâng cao TNNL của các NHTMCP Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng việc đa dạng hóa hoạt động và TNNL của các NHTMCP Việt Nam như thế nào?
  2. Chiều hướng tác động và mức độ tác động của các yếu tố đến TNNL của các NHTMCP Việt Nam?
  3. Các khuyến nghị nào nhằm nâng cao TNNL cho các NHTMCP Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL của các NHTMCP Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát 27 NHTMCP tại Việt Nam có công bố báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên đầy đủ trong khoảng thời gian 8 năm, từ năm 2010 đến năm 2017, hình thành bộ dữ liệu bảng cân bằng với 216 quan sát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan theo ba nhóm yếu tố chính:

Nhóm yếu tố vi mô nội tại của ngân hàng:

  • Các nghiên cứu quốc tế: Rogers và Sinkey Jr (1999) ghi nhận mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ TNNL với tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Davis và Tuori (2000b) phân tích các ngân hàng tại 28 nước OECD giai đoạn 1979-1995, cho thấy ngân hàng quy mô lớn phụ thuộc nhiều hơn vào TNNL và ghi nhận quan hệ đồng biến giữa TNNL với tỷ lệ chi phí trên thu nhập. DeYoung và Rice (2004) hồi quy dữ liệu 4.712 ngân hàng thương mại Mỹ giai đoạn 1989-2001, xác định quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ tiền gửi cơ sở với TNNL, nhưng TNNL có quan hệ nghịch biến với chất lượng quản trị. Shahimi, Ismail, Ghafar và Ahmad (2006) tại 21 ngân hàng Hồi giáo Malaysia giai đoạn 1994-2004 tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa thu nhập từ phí với quy mô tài sản và tỷ lệ tiền gửi, trong khi nghịch biến với tỷ lệ vốn chủ sở hữu và dự phòng cho vay. Hahm (2008) khảo sát 662 ngân hàng tại 29 nước OECD giai đoạn 1992-2006, kết luận ngân hàng có quy mô tài sản lớn, biên lãi ròng thấp, nợ xấu cao và tỷ lệ chi phí cao có xu hướng đạt TNNL cao hơn. Lepetit, Nys, Rous và Tarazi (2008a) tại 2.129 ngân hàng châu Âu phát hiện ngân hàng có tỷ trọng TNNL cao ít dùng đòn bẩy hơn, đạt ROA và ROE cao hơn nhưng chịu chi phí nhân viên cao hơn và đối mặt với rủi ro lớn hơn. Ngoài ra, Al-Horani (2010) tại Jordan, Rotich, Okaka và Aywa (2011) tại Kenya, Hakimi và cộng sự (2012) tại Tunisia, Damankah và cộng sự (2014) tại Ghana, Aslam và cộng sự (2015) tại Pakistan, Hamdi và cộng sự (2017) tại Tunisia, Meng và cộng sự (2018) tại Trung Quốc cũng phân tích các đặc trưng vi mô tác động đến hoạt động phi truyền thống.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa (2013) giai đoạn 2006-2012 chỉ ra lãi ròng trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tiền gửi trên tổng tài sản thúc đẩy gia tăng TNNL. Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2016) trên mẫu 33 ngân hàng giai đoạn 2006-2013 xác nhận quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu tương quan thuận với TNNL, trong khi tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có quan hệ nghịch biến. Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) giai đoạn 2005-2011 dùng mô hình 2SLS và Tobit cho thấy quy mô ngân hàng và thị phần tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động.

Nhóm yếu tố kinh tế vĩ mô:

  • Các nghiên cứu quốc tế: Hahm (2008) nhận định tăng trưởng kinh tế chậm và lạm phát ổn định thúc đẩy ngân hàng gia tăng TNNL. Chortareas, Garza-García và Girardone (2012) nghiên cứu 9 quốc gia Mỹ Latinh giai đoạn 1999-2006 chỉ ra GDP tác động tiêu cực đến thu nhập lãi cận biên. Damankah và cộng sự (2014) ghi nhận lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương có liên hệ cùng chiều với hoạt động phi truyền thống. Engle, Moshirian, Sahgal và Zhang (2014) khảo sát 2.065 ngân hàng toàn cầu cho thấy lạm phát tác động tiêu cực đến TNNL. Hamdi và cộng sự (2017) khẳng định GDP và lạm phát chi phối TNNL tại Tunisia.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Đặng Hữu Mẫn và Hoàng Dương Việt Anh (2014) giai đoạn 2003-2012 cho thấy lạm phát và tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP tương quan dương với lợi nhuận ngân hàng, trong khi thể chế điều tiết chất lượng cao kích thích hoạt động ngân hàng. Trần Chí Chinh và Nguyễn Hữu Tiến (2016) ghi nhận lạm phát tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động, còn GDP tác động thuận chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê. Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2016) chỉ ra GDP nghịch biến với TNNL, còn lạm phát cùng chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê. Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) nhận thấy GDP và lạm phát tác động tiêu cực đến hiệu quả ngân hàng. Đoàn Anh Tuấn (2018) và Nguyễn Mạnh Hùng (2018) tiếp cận ảnh hưởng của bất định chính trị và bộ chỉ số quản trị WGI.

Nhóm yếu tố cạnh tranh và cấu trúc thị trường: Các nghiên cứu của Casu và Girardone (2009), Carbo-Valverde, Rodriguez-Fernandez và Udell (2009), Ariss (2010), Soedarmono, Machrouh và Tarazi (2011), Nguyen (2012) khảo sát sức mạnh thị trường và cấu trúc cạnh tranh. Nguyen (2012) nghiên cứu các ngân hàng Nam Á giai đoạn 1998-2008, chỉ ra ngân hàng có lợi thế thị trường cao tạo ra ít TNNL hơn do ưu tiên khai thác thị trường cho vay truyền thống.

Nhóm nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Phạm vi và phương pháp Kết quả chính về TNNL và hiệu quả
Vi mô quốc tế DeYoung và Rice (2004) 4.712 NHTM Mỹ (1989-2001), hồi quy Tiền gửi cơ sở và công nghệ tác động thuận; chất lượng quản trị nghịch biến với TNNL.
Vi mô quốc tế Hahm (2008) 662 NHTM tại 29 nước OECD (1992-2006) Quy mô lớn, biên lãi thấp, chi phí cao và nợ xấu cao thúc đẩy đa dạng hóa TNNL.
Vi mô Việt Nam Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2016) 33 NHTM Việt Nam (2006-2013), hồi quy Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu đồng biến với TNNL; tỷ lệ cho vay trên tài sản nghịch biến.
Vĩ mô quốc tế Engle, Moshirian, Sahgal và Zhang (2014) 2.065 ngân hàng toàn cầu, dữ liệu bảng Vốn chủ sở hữu tác động tích cực; tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực đến TNNL.
Vĩ mô Việt Nam Đặng Hữu Mẫn và Hoàng Dương Việt Anh (2014) Hệ thống NHTM Việt Nam (2003-2012), DPDA Lạm phát, vốn hóa thị trường chứng khoán và chất lượng thể chế điều tiết hỗ trợ hoạt động ngân hàng.
Cạnh tranh Nguyen (2012) NHTM Nam Á (1998-2008), dữ liệu bảng Lợi thế thị trường cao làm giảm mức độ tạo TNNL; quy mô và tỷ lệ vốn hỗ trợ đa dạng hóa.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:

  1. Giải quyết sự mâu thuẫn về kết quả thực nghiệm giữa các nghiên cứu trước đây về chiều hướng tác động của các yếu tố vi mô (quy mô, biên lãi, chi phí, vốn) và vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất) đến TNNL trong điều kiện thị trường ngân hàng Việt Nam.
  2. Bổ sung khía cạnh cạnh tranh thị trường (đo lường qua chỉ số Lerner) và mức độ đa dạng hóa thu nhập (chỉ số HHI) trong mối quan hệ trực tiếp với TNNL của các NHTMCP Việt Nam.
  3. Là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đưa bộ chỉ số quản trị cấp quốc gia (Worldwide Governance Indicators - WGI) của Ngân hàng Thế giới, cụ thể là biến ổn định chính trị và phi bạo lực (PVE) cùng kiểm soát tham nhũng (CCE), vào mô hình định lượng giải thích TNNL.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng 4 lý thuyết nền tảng để xây dựng khung phân tích:

  1. Lý thuyết về nguồn lực (Resource-based view): Xuất phát từ Wernerfelt (1984), Barney (1991), Peteraf (1993) và được Joseph và Rajendran (1992), Baral (2005), Kouser, Aamir, Mehvish và Azeem (2011), Phan Thị Hằng Nga (2013) áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng. Lý thuyết giải thích rằng các nguồn lực bên trong có giá trị, hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế (thể hiện qua quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, tiền gửi, công nghệ và khả năng sinh lời) tạo ra lợi thế cạnh tranh, cho phép ngân hàng đa dạng hóa và mở rộng TNNL.
  2. Lý thuyết quyền lực thị trường: Dựa trên mô hình Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (SCP) từ Bain (1956), Short (1979) và mở rộng bởi Berger và Hannan (1998). Quyền lực thị trường được lượng hóa bằng chỉ số Lerner (Lerner, 1934; Ariss, 2010; Võ Xuân Vinh và Dương Thị Ánh Tiên, 2017). Luận án ước lượng chi phí biên (MC) dựa trên hàm tổng chi phí dạng siêu nghiệm (Translog) hai bước với ba giá đầu vào gồm: giá vốn tiền gửi ($w_1$), giá vốn vật chất ($w_2$) và giá lao động ($w_3$), cùng biến xu hướng công nghệ ($T$). Chỉ số Lerner phản ánh mức chênh lệch giữa giá đầu ra và chi phí biên trên giá đầu ra.
  3. Lý thuyết tài chính và đa dạng hoá thu nhập: Xuất phát từ Baele, De Jonghe và Vander Vennet (2007), Kevin J. Stiroh (2004), Stiroh và Rumble (2006), Chiorazzo, Milani và Salvini (2008), Saunders, Schmid và Walter (2016). Ngân hàng tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và phạm vi, chia sẻ chi phí cố định và mạng lưới để cung ứng dịch vụ phi truyền thống nhằm phân tán rủi ro. Mức độ đa dạng hóa thu nhập được đo lường bằng chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) tính toán từ 4 cấu phần thu nhập: thu nhập lãi thuần, thu nhập từ dịch vụ, thu nhập từ kinh doanh/đầu tư và thu nhập khác trên tổng thu nhập hoạt động (TOR).
  4. Lý thuyết thể chế: Dựa trên North (1990), Tilman (1997), Kasper và Streit (1999), Acemoglu, Johnson và Robinson (2001). Môi trường thể chế và hiệu quả quản trị công tạo ra khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng, bảo đảm tính minh bạch và ổn định thị trường, từ đó tác động đến sự dịch chuyển cấu trúc thu nhập ngân hàng. Yếu tố này được lượng hóa qua bộ chỉ số WGI của World Bank (Kaufmann, Kraay và Mastruzzi, 2003).

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án áp dụng phương pháp định lượng trên dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) của 27 NHTMCP Việt Nam trong 8 năm (2010-2017) với 216 quan sát. Quy trình phân tích số liệu và kỹ thuật kinh tế lượng bao gồm:

  • Thống kê mô tả các biến, phân tích ma trận hệ số tương quan Pearson và kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF).
  • Hồi quy tuyến tính bằng các phương pháp: Hồi quy bình phương bé nhất gộp (Pooled-OLS), Mô hình tác động cố định (FEM) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
  • Thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình: kiểm định F-test (lựa chọn giữa Pooled-OLS và FEM), kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier (lựa chọn giữa Pooled-OLS và REM), kiểm định Hausman (lựa chọn giữa FEM và REM).
  • Kiểm định khuyết tật mô hình: Kiểm định Wald kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi và kiểm định Wooldridge kiểm tra hiện tượng tự tương quan.
  • Ước lượng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.
  • Sử dụng phương pháp hồi quy bảng động GMM (Generalized Method of Moments) để kiểm soát vấn đề nội sinh tiềm ẩn của các biến tài chính và ảnh hưởng của độ trễ.
  • Ứng dụng kỹ thuật hồi quy LASSO (Least Absolute Shrinkage and Selection Operator) nhằm co các hệ số hồi quy về 0 để chọn lọc biến tối ưu độc lập với các giả định khuyết tật mô hình, dùng làm căn cứ kiểm định chéo và đối chiếu độ tin cậy với kết quả mô hình GMM.
Ký hiệu biến Tên biến và cách tính toán Nhóm yếu tố Ý nghĩa thống kê trong kết quả hồi quy
TNNL Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản (hoặc tỷ trọng TNNL) Biến phụ thuộc Biến đo lường được giải thích
DEP Tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản Vi mô Có ý nghĩa thống kê trong GMM và LASSO
NIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Vi mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS, GMM, LASSO
EQUITY Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Vi mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS, GMM, LASSO
TEC Công nghệ (đại diện bằng số lượng máy ATM/POS) Vi mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS, GMM, LASSO
COST Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập Vi mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS, GMM, LASSO
ROA Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản Vi mô Có ý nghĩa thống kê trong GMM và LASSO
INF Tỷ lệ lạm phát (chỉ số CPI) Vĩ mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS, GMM, LASSO
GDP Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội Vĩ mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS
IR Lãi suất thị trường Vĩ mô Có ý nghĩa thống kê trong FGLS, GMM, LASSO
PVE Chỉ số ổn định chính trị và phi bạo lực (thuộc WGI) Quản trị quốc gia Có ý nghĩa thống kê trong GMM và LASSO
CCE Chỉ số kiểm soát tham nhũng (thuộc WGI) Quản trị quốc gia Có ý nghĩa thống kê trong FGLS
COM Mức độ cạnh tranh (chỉ số Lerner) Cạnh tranh Có ý nghĩa thống kê trong GMM và LASSO
HHI Chỉ số đa dạng hóa thu nhập Herfindahl-Hirschman Cấu trúc thu nhập Có ý nghĩa thống kê trong GMM và LASSO

Nguồn dữ liệu: Luận án thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên của 27 NHTMCP Việt Nam; các báo cáo tổng kết thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; dữ liệu kinh tế vĩ mô và chỉ số WGI từ Ngân hàng Thế giới (World Bank), Tổng cục Thống kê Việt Nam và hệ thống dữ liệu Thomson Reuters.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương này thiết lập nền tảng đề tài. Tác giả nêu bật bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng đa dạng hóa dịch vụ tài chính, các áp lực từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thanh toán không dùng tiền mặt và việc triển khai Quyết định 254/QĐ-TTg cùng Quyết định 986/QĐ-TTg. Chương giới thiệu mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi 27 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2010-2017. Tác giả tóm lược phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích các đóng góp khoa học, nêu ra các phát hiện mới từ kết quả thực nghiệm và trình bày cấu trúc 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập ngoài lãi và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại

Chương 2 trình bày các khái niệm về NHTM theo Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, định nghĩa TNNL là tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh trừ đi thu nhập lãi thuần. TNNL gồm 4 thành phần chính theo Kevin J. Stiroh (2002): thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, doanh số giao dịch, lệ phí và các khoản thu khác. Chương phân tích vai trò của TNNL trong việc ổn định thu nhập, phân tán rủi ro và giảm chi phí xử lý thông tin. Tác giả luận giải 4 hệ thống lý thuyết: lý thuyết nguồn lực, lý thuyết quyền lực thị trường (mô hình SCP, chỉ số Lerner), lý thuyết tài chính và đa dạng hoá thu nhập (chỉ số HHI) và lý thuyết thể chế (bộ chỉ số WGI). Tác giả phân tích các nhân tố chi phối gồm sự điều tiết của chính phủ, hiệu quả hoạt động, công nghệ (ATM/POS), quy mô, lãi suất, tăng trưởng kinh tế. Cuối chương, tác giả tổng hợp tài liệu nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước thành bảng biểu chi tiết, chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu chính.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả mô tả chi tiết công thức đo lường các biến phụ thuộc và độc lập: biến vi mô (DEP, NIM, EQUITY, TEC, COST, ROA), biến vĩ mô (INF, GDP, IR), biến thể chế quản trị (PVE, CCE) và biến cạnh tranh/đa dạng hóa (COM, HHI). Phương pháp đo lường chỉ số Lerner được thiết lập qua hàm chi phí Translog bậc hai. Tác giả nêu rõ quy trình xử lý số liệu: thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm tra đa cộng tuyến, hồi quy Pooled-OLS, FEM, REM; thực hiện các kiểm định F-test, Hausman, kiểm định Wald phát hiện phương sai sai số thay đổi, kiểm định Wooldridge phát hiện tự tương quan; xử lý bằng FGLS; khắc phục tính nội sinh bằng mô hình GMM; và kiểm định chọn lọc biến bằng hồi quy LASSO trên mẫu 27 NHTMCP giai đoạn 2010-2017 (216 quan sát).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày thực trạng hoạt động kinh doanh và kết quả ước lượng thực nghiệm. Về thực trạng, tốc độ tăng vốn điều lệ, vốn huy động và tổng tài sản của 27 NHTMCP Việt Nam tăng nhanh nhưng không đem lại khả năng sinh lời tương xứng; TNNL trung bình giai đoạn 2010-2017 chiếm 20,47% tổng thu nhập (giai đoạn 2011-2017 bình quân đạt 20,48%, năm 2017 đạt 23,31%); cơ cấu TNNL chủ yếu dựa vào dịch vụ thanh toán, dịch vụ tiền mặt, ủy thác, đại lý và thu hồi nợ xấu đã xử lý; hạ tầng công nghệ (ATM, POS, EFTPOS, EDC) tăng trưởng mạnh về số lượng và doanh số giao dịch.

Về kết quả kinh tế lượng:

  • Kiểm tra VIF cho thấy không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Các kiểm định lựa chọn mô hình và kiểm định khuyết tật xác nhận mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan (kiểm định Wald và Wooldridge đều có ý nghĩa thống kê).
  • Hồi quy FGLS khắc phục khuyết tật xác định 8 biến có ý nghĩa thống kê tác động đến TNNL: NIM, EQUITY, TEC, COST, INF, GDP, IR và CCE.
  • Hồi quy bảng động GMM xác định 11 yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến TNNL gồm: DEP, NIM, EQUITY, TEC, COST, ROA, INF, IR, PVE, COM và HHI.
  • Hồi quy LASSO kiểm định lại cho kết quả tương đồng với mô hình GMM trong việc chọn lọc các nhân tố tác động trọng yếu. Chương 4 kết thúc bằng phần thảo luận chi tiết, so sánh tương quan kết quả thực nghiệm của luận án với các công trình nghiên cứu trước đó.

Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm và đề xuất các nhóm khuyến nghị đồng bộ:

  • Đối với ban quản trị các NHTMCP Việt Nam (nhóm biến vi mô): Tối ưu hóa cơ cấu chi phí (COST); kiểm soát biên lãi thuần (NIM) hợp lý; nâng cao năng lực vốn chủ sở hữu (EQUITY); gia tăng đầu tư chiều sâu vào công nghệ ngân hàng hiện đại (TEC); mở rộng huy động tiền gửi (DEP) làm nền tảng bán chéo dịch vụ; nâng cao hiệu quả sinh lời tài sản (ROA).
  • Đối với nhóm biến cạnh tranh và cấu trúc (COM và HHI): Chủ động ứng phó với áp lực cạnh tranh thị trường, kiểm soát quyền lực định giá (Lerner), đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ phi tín dụng để phân tán rủi ro.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (nhóm biến vĩ mô): Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ cần điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất (IR) linh hoạt, kiểm soát lạm phát (INF), duy trì ổn định kinh tế vĩ mô nhằm tạo môi trường hoạt động lành mạnh cho hệ thống ngân hàng.
  • Đối với chỉ số quản trị cấp quốc gia: Nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, bảo đảm ổn định chính trị, củng cố thể chế và kiểm soát tham nhũng (CCE, PVE) nhằm gia tăng tính minh bạch của thị trường tài chính. Chương kết luận bằng việc chỉ ra các giới hạn nghiên cứu và định hướng các đề tài tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:

  • Bổ sung khía cạnh cạnh tranh thị trường (đo lường qua chỉ số Lerner) vào mô hình phân tích TNNL của hệ thống NHTMCP tại một thị trường mới nổi như Việt Nam, hoàn thiện khoảng trống nghiên cứu mà các công trình trước đây chưa giải quyết.
  • Là công trình đầu tiên tại Việt Nam đưa bộ chỉ số quản trị cấp quốc gia (WGI) của World Bank (cụ thể là nhóm biến PVE và CCE) vào đánh giá tác động đối với TNNL của ngân hàng thương mại.
  • Kết hợp đồng thời các lý thuyết nền tảng (lý thuyết nguồn lực, quyền lực thị trường, đa dạng hóa thu nhập và lý thuyết thể chế) để xây dựng mô hình phân tích toàn diện bao gồm cả yếu tố vi mô, vĩ mô, cạnh tranh và thể chế.
  • Ứng dụng quy trình xử lý kinh tế lượng kết hợp giữa hồi quy FGLS, hồi quy bảng động GMM nhằm kiểm soát tính nội sinh và kỹ thuật học máy thống kê LASSO để kiểm định chéo việc lựa chọn biến, nâng cao độ tin cậy của kết quả thực nghiệm.

Đóng góp về mặt thực tiễn và phát hiện nghiên cứu:

  • Cung cấp dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010-2017: TNNL của các NHTMCP Việt Nam đạt tỷ trọng trung bình 20,47% tổng thu nhập; tốc độ tăng trưởng tài sản và nguồn vốn chưa mang lại khả năng sinh lời tương xứng; nguồn thu TNNL phụ thuộc lớn vào dịch vụ thanh toán, tiền mặt, ủy thác, đại lý và thu hồi nợ xấu.
  • Xác định chính xác 11 nhân tố có ý nghĩa thống kê tác động đến TNNL theo mô hình GMM và được củng cố bởi mô hình LASSO: DEP, NIM, EQUITY, TEC, COST, ROA, INF, IR, PVE, COM và HHI (trong khi FGLS ghi nhận 8 biến: NIM, EQUITY, TEC, COST, INF, GDP, IR và CCE).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phân nhóm rõ ràng cho các nhà quản trị ngân hàng thương mại (quản trị chi phí, vốn, công nghệ, tiền gửi), định hướng cạnh tranh và đa dạng hóa (COM, HHI), cùng các khuyến nghị vĩ mô và cải cách thể chế gửi tới Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý chính phủ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi mẫu nghiên cứu mới chỉ bao gồm 27 NHTMCP tại Việt Nam, chưa bao quát toàn bộ các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
  • Khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2010-2017, chưa cập nhật các biến động thị trường trong giai đoạn sau năm 2017.
  • Mẫu nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng nên đã loại trừ các ngân hàng không công bố đầy đủ báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên liên tục trong suốt 8 năm nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu bao gồm tất cả các loại hình tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam để nâng cao tính đại diện cho toàn hệ thống tài chính.
  • Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sang các năm tiếp theo nhằm kiểm chứng tính bền vững của các hệ số tác động trong các chu kỳ kinh tế mới.
  • Bổ sung thêm các khía cạnh quản trị rủi ro chuyên sâu, các chỉ số quản trị nội bộ chi tiết và tác động của các sản phẩm công nghệ tài chính mới phát sinh trong ngân hàng số.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học: Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo có cấu trúc học thuật chặt chẽ về khung lý thuyết đa diện (kết hợp lý thuyết nguồn lực, quyền lực thị trường, đa dạng hóa và thể chế) và quy trình xử lý dữ liệu bảng nâng cao. Đáng tham khảo nhất là phương pháp luận tại Chương 3 và Chương 4, đặc biệt là quy trình ước lượng hàm chi phí Translog hai bước để tính chỉ số Lerner, kỹ thuật khắc phục khuyết tật bằng FGLS, GMM và ứng dụng hồi quy LASSO để chọn lọc biến.
  • Đối với các nhà quản trị ngân hàng thương mại: Nội dung phân tích thực trạng và thảo luận kết quả thực nghiệm tại Chương 4 và Chương 5 cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giúp các nhà quản trị nhận diện rõ vai trò của chi phí hoạt động, vốn chủ sở hữu, công nghệ và quy mô tiền gửi trong việc mở rộng nguồn TNNL; từ đó xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ phi tín dụng phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro tập trung.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và các bộ ngành: Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ việc đánh giá kết quả triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD (Quyết định 254/QĐ-TTg) và Chiến lược phát triển ngành ngân hàng (Quyết định 986/QĐ-TTg); đồng thời làm cơ sở tham khảo cho công tác điều hành lãi suất, kiểm soát lạm phát và cải cách môi trường quản trị công.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức bao nhiêu? Theo kết quả thống kê mô tả của luận án, TNNL của 27 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017 chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 20,47% trong tổng thu nhập hoạt động (nếu tính riêng giai đoạn 2011-2017 bình quân đạt 20,48%, trong đó năm 2017 đạt 23,31%).

  2. Những nhân tố nào có ảnh hưởng và có ý nghĩa thống kê đến TNNL theo mô hình hồi quy bảng động GMM? Kết quả ước lượng mô hình GMM trong luận án xác định có 11 yếu tố có ảnh hưởng và đều có ý nghĩa thống kê đến TNNL gồm: DEP (tiền gửi), NIM (biên lãi thuần), EQUITY (vốn chủ sở hữu), TEC (công nghệ), COST (chi phí), ROA (khả năng sinh lời tài sản), INF (lạm phát), IR (lãi suất), PVE (chỉ số ổn định chính trị), COM (cạnh tranh - Lerner) và HHI (đa dạng hóa thu nhập).

  3. Yếu tố thể chế quản trị cấp quốc gia nào được luận án phát hiện có tác động đến TNNL và được lấy từ nguồn dữ liệu nào? Luận án phát hiện sự tác động của biến vĩ mô đánh giá hiệu quả quản trị cấp quốc gia theo bộ chỉ số WGI của Ngân hàng Thế giới (World Bank), cụ thể là nhóm biến ổn định chính trị và phi bạo lực (PVE) theo phương pháp GMM và chỉ số kiểm soát tham nhũng (CCE) theo phương pháp FGLS.

  4. Luận án đã sử dụng những kỹ thuật kinh tế lượng nào để xử lý các khuyết tật của dữ liệu bảng? Sau khi các kiểm định Wald và Wooldridge xác nhận mô hình hồi quy xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục khuyết tật, đồng thời áp dụng mô hình bảng động GMM để xử lý vấn đề nội sinh và dùng kỹ thuật hồi quy LASSO để kiểm định lại việc lựa chọn các biến ảnh hưởng.

  5. Nguồn thu nhập ngoài lãi của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn khảo sát chủ yếu đến từ các hoạt động nào? Kết quả phân tích thực trạng tại Chương 4 chỉ ra rằng TNNL của các NHTMCP Việt Nam cơ bản phát sinh từ nguồn dịch vụ thanh toán và tiền mặt, các hoạt động ủy thác, đại lý và nguồn thu từ các khoản nợ xấu đã xử lý.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Việt Hùng đã thực hiện phân tích toàn diện thực trạng và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi của 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2010-2017. Bằng việc ứng dụng quy trình ước lượng đa mô hình từ Pooled-OLS, FEM, REM, FGLS đến GMM và đối chiếu kiểm định bằng LASSO, luận án đã xác định 11 biến số vi mô, vĩ mô, cạnh tranh và thể chế có ý nghĩa thống kê chi phối TNNL. Các phát hiện thực nghiệm đóng góp luận cứ khoa học cho các nhà quản trị ngân hàng trong việc đa dạng hóa nguồn thu, đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện chính sách tiền tệ và môi trường thể chế quốc gia.