Đặt vấn đề Trồng rừng là việc hết sức quan trọng của ngành lâm nghiệp, làm cho vốn rừng được duy trì và phát triển nhằm bảo vệ môi trường; đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nhất là nông dân nông thôn miền núi. Trong nhiều năm trở lại đây, vai trò của việc trồng rừng ngày càng được quan tâm chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu về gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các chức năng phòng hộ, điều hòa khí hậu…. Bên cạnh đó đã có nhiều dự án trồng rừng cảnh quan được Đảng và Nhà nước triển khai và đã tạo mọi điều kiện để thu hút người dân sống bằng nghề trồng rừng, để bảo vệ nguồn gen cũng như đáp ứng cho nhu cầu tham quan giải trí, du lịch, duy trì nét văn hóa của con người ngày càng cao, làm cho rừng giàu thêm bảo vệ môi trường khí hậu, cảnh quan. Việt Nam với địa thế tự nhiên nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa đã hình thành nên kiểu rừng nhiệt đới nhiều tầng tán, cây cối xanh tốt quanh năm, thực vật rừng rất phong phú và đa dạng cả về loài cây và về số lượng, điều này không chỉ làm giàu thêm cho rừng mà nó còn có tác dụng bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm và còn tránh gây tiếng ồn cho môi trường xung quanh.
Với những lợi thế trên, đất nước ta ngày càng phát triển. Trồng rừng cảnh quan cũng góp phần làm tăng khả năng phòng hộ của rừng. Để trồng rừng thành công, đạt hiệu quả cao, một trong những yếu tố ảnh hưởng quyết định đó là giống, cây con đem trồng phải đảm bảo không những về số lượng mà phải đảm bảo cả về chất lượng, phát triển nhanh, rút ngắn chu kì sản xuất và công chăm sóc rừng. Song song với các loại cây Lâm nghiệp có giá trị kinh tế như: Thông, Keo, Mỡ,.
thì cây Tùng la hán cũng là một trong những loài 2 cây Lâm Nghiệp có giá trị kinh tế cao, có giá trị thẩm mỹ, kinh tế cũng như về mặt phong thủy. Giống là một khâu đặc biệt quan trọng trong các chương trình trồng rừng kể cả cho rừng kinh tế, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng cây phân tán. Công tác giống đóng một vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho sản xuất nghề rừng được lâu dài, sớm phát huy tác dụng phòng hộ và bảo về môi trường. Đặc biệt trong trồng rừng thâm canh, không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao [6].
Những loài cây sau khi đã được chọn lọc, khảo nghiệm thì việc lựa chọn phương pháp nhân giống có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc duy trì những tính trạng tốt của loài cây rừng. Một trong số những phương pháp nhân giống duy trì được trọn vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời sau là nhân giống bằng hom [9]. Nhân giống là bước cuối cùng của chương trình cải thiện giống. Để giữ được đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng phương thức nhân giống sinh dưỡng, trong các phương thức nhân giống sinh dưỡng thì giâm hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây rừng, là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp trồng rừng với quy mô lớn, sản phẩm cuối cùng cho một số lượng lớn cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền.
Nhân giống bằng hom là một trong những công cụ có hiệu quả cho chọn giống cây rừng. Song cần thấy rằng việc áp dụng nhân giống bằng hom chỉ là một công cụ của chọn giống, nó chỉ phát huy tác dụng tốt khi giống đã qua chọn lọc, khảo nghiệm cẩn thận, được chứng minh là hơn giống đại trà [1]. Xuất phát từ thực tế tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus), trên nền thuốc kích thích sinh trưởng IBA nồng độ 450ppm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Đề tài góp phần tạo giống cây con Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus) bằng cây hom có chất lượng tốt cung cấp cho rừng trồng, cảnh quan đô thị, vườn cây cảnh,.
tăng tính đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu bảo vệ môi trường sống. Mục tiêu nghiên cứu Lựa chọn được loại hom, kích thước hom Tùng la hán cho tỷ lệ ra rễ cao nhất trong nhân giống cây Tùng la hán bằng phương pháp giâm hom.Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã được học. Đặc biệt là những kiến thức trong lĩnh vực lâm sinh như kiến thức về hom giâm, xử lý hom giâm, kỹ thuật cắt hom, cắm hom…. Đồng thời biết được quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hom từ lúc cắm hom đến lúc cây hom ra rễ.
Từ đó nắm vững được toàn bộ quá trình nhân giống bằng phương pháp giâm hom. Đồng thời qua quá trình nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng khoa học tiến bộ vào thực tiễn sản xuất. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng cơ sở dữ liệu về loài cây Tùng la hán, sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả của đề tài có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất, tìm ra được kích thước và loại hom phù hợp trong nhân giống bằng hom giâm với loài cây Tùng la hán. Ứng dụng kết quả nghiên cứu để sản xuất cây con Tùng la hán bằng hom, tạo ra được cây con đảm bảo chất lượng trong trồng và nhân giống.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của giâm hom Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,…. Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tương đối rẻ tiền nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu hình.
Sinh sản hữu hình là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội. Hợp tử phát triển thành cá thể mới. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác của sinh sản dinh dưỡng. Cơ sở tế bào học Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sở quan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển của thực vật.
Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây. Cơ sở di truyền học Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quá trình nguyên nhiễm hay nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân để giâm hom. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môi trường xung quanh quyết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất. Quá trình phát triển của cá 5 thể được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khác nhau.
Sự hình thành rễ của hom giâm Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phậzn nào của cây ngoài hệ rễ của nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (Ví dụ: Đa, Si khi ra rễ là mọc từ cành và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân). Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom Ánh sáng Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong quá trình ra rễ của hom giâm, không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có hoạt động ra rễ, hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện che tối hoàn toàn, bất kể đó là nhóm cây ưa sáng hay chịu bóng. Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ cao nên giảm đáng kể tỉ lệ ra rễ. Chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, theo Komisarov, 1964 thì ánh sáng tự nhiên cần thiết cho ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làm giảm tỉ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài cây ưa sáng.
Tewary (1993) cho rằng thời gian chiếu sáng cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Ánh sáng tán xạ cần thiết cho hom và độ sáng thích hợp khoảng 40-50% ánh sáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ thời gian ra rễ ngắn hơn và tỷ lệ ra rễ cũng cao hơn [13]. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm, ở nhiệt độ quá thấp, hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đó cũng làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom. Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom.
Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và 6 chuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước, thiếu nước thì hom bị héo, nhiều nước quá thì hoạt động của men thủy giải tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ, khi giâm hom mỗi loài cây cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom từ 15-20% thì hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ. Giá thể cắm hom Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã sử lý chất kích thích ra rễ. Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất vàng trong vườn ươm.