CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Sự phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt nam. Tình hình phát triển, quan điểm phát triển trong tương lai. Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, mở của nền kinh tế Việt nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành kinh tế, đời sống của nhân dân được nâng cao.
Trong xu thế phát triển chung đó ngành công nghiệp ôtô Việt nam cũng không ngừng phát triển trở thành một trong ngành kinh tế mũi nhọn. Trong thực tế Ngành công nghiệp ôtô Việt nam đã có từ khá lâu nhưng thực sự phát triển trong vòng 20 năm trở lại đây và phát triển trên cơ sở nội lực liên doanh liên kết. Hiện nay, nền công nghiệp ô tô Việt nam cơ bản gồm có 3 thành phần: + Các công ty liên doanh ôtô: Bao gồm các liên doanh của các công ty ô tô nổi tiếng thế giới như: Liên doanh Toyota Việt nam, Ford Việt nam, Vidamco, Nissan…… tính đến năm 2000 đã có 11 công ty liên doanh. Đầu năm 2005 liên doanh thứ 12 của hãng Honda xuất hiện với dòng xe CIVIC đã được ưa chuộng trên thế giới.
+ Các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô phát triển trên cơ sở các công ty cơ khí quốc doanh: Công ty ô tô hòa bình, công ty ô tô 1- 5, công ty ô tô 3 - 2. + Các doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân Xuân Kiên, công ty ô tô Trường Hải, công ty TNHH Chiến Thắng… Tính đến cuối năm 2009 số doanh nghiệp sản xuất ôtô trên lãnh thổ Việt Nam T 0 T 0 T 0 là 397 doanh nghiệp: trong đó, có 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô, 40 doanh nghiệp sản 16 xuất khung gầm, thân xe và thùng xe, 210 doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng ôtô và 97 doanh nghiệp sửa chữa ôtô được rải đều trên 44 tỉnh, thành trong cả nước. Trong những năm gần đây nền công nghiệp ô tô Việt nam có những chuyển biến tích cực đó là việc tham gia ngày càng nhiều của các công ty tư doanh, họ cũng rất mạnh rạn trong viếc đầu tư không chỉ trong lĩnh vực láp ráp mà còn đầu tư trong mua dây truyền công nghệ của các nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc … như công ty Xuân Kiên, công ty ô tô Chiến Thắng. Đồng thời có sự tăng trưởng mạnh mẽ các nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô cung cấp cho các nhà máy lắp ráp ô tô trong nước và tiến tới xuất khẩu ra thị trường trong khu vực.
Mặc dù dã có sự phát triển nhưng cho đến nay thực tế sự phát triển của nền công nghiệp ô tô Việt nam vẫn là trong lĩnh vực láp ráp thuần túy. Trong khi đó thì chất lượng ô tô chỉ ở mức trung bình, tỷ lệ nội địa hóa chưa đạt, công nghệ vẫn còn ất hạn chế. Ngoài ra, do nền kinh tế của đất nước đang trên đà phát triển, cơ sở hạ tầng giao thông ngày càng được cải thiện đáng kể, đời sống của nhân dân càng ngày càng được nâng cao thì nhu cầu sử dụng ô tô của thị trường trong nước ngày càng tăng. Số lượng xe ô tô đưa vào sử dụng trong những năm qua ngày càng tăng mạnh tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong nước.
Sau nhiều năm Chính Phủ đã định hình được ở Việt nam có 4 tổng công ty đầu mối về sản xuất ô tô đó là: VINAMOTOR, VEAM, VINACOAL và SAIGONMOTOR bao quát tất cả các loại xe cần thiết. Để định hướng cho nền công nghiệp ô tô Việt nam phát triển trong những năm tới Chính Phủ đặc biệt là Bộ Công Thương và một số ngành có liên quan đã đưa ra chính sách, giải pháp để phấn đấu đến năm 2020 công nghiệp ô tô Việt nam sẽ trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của đất nước có khả năng đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu của thị trường trong nước, tham gia vào thị trường trong nước và thế giới. Chính sách nội địa hóa và phát triển công nghiệp ô tô trong nước. Quan điểm cơ bản về phát triển ngành công nghiệp ô tô.
- Công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp quan trọng, cần được ưu tiên phát triểnđể phục vụ có hiệu quả trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và củng cố an ninh quốc phòng của đất nước. - Phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước đồng thời tạo động lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ khác phát triển, từng bước nâng cao khả năng xuất khẩu phụ tùng ô tô sang các nước trong khu vực và thế giới. - Phát triển ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở đẩy mạnh quá trình liên doanh, liên kết trong nước và phân công hợp tác quốc tế. Tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa cao trên cơ sở hình thành các khu công nghiệp phụ trợ làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn sản xuất và lắp ráp ô tô.
- Phát triển ngành công nghiệp ô tô với phương châm đi tắt đón đầu trên cơ sở tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới kết hợp với việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu phát triển trong nước và tận dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị sẵn có nhằm nhanh chóng đáp ứng nhu cầu trong nước. - Phát triển ngành công nghiệp ô tô phải phù hợp với chính sách tiêu dùng của đất nước và đồng bộ với việc phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường. Để đẩy nhanh quá trình phát triển nền công nghiệp ô tô Việt nam, đồng thời tạo động lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ khác phát triển thì Bộ Công Thương đã có định hướng phát triển cụ thể trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 như: - Tập chung sản xuất các loại ô tô thông dụng và ô tô chuyên dùng hiện đại đang có nhu cầu lớn trong nước. - Ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực sản xuất phụ tùng ô tô, khuyến khích phát triển những ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm phục phụ hiệu quả nhu cầu trong nước và xuất khẩu phụ tùng ô tô ra nước ngoài.
18 - Các dự án sản xuất động cơ ô tô thuộc chương trình cơ khí trọng điểm sẽ được giao cho các doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo tập trung nguồn lực, tránh phân tán, tạo khả năng cung cấp cho thị trường. - Kết hợp phương thức sản xuất lắp ráp ban đầu với từng bước nâng cao khả năng chế tạo trong công nghiệp ô tô Việt nam. Khuyến khích tăng tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp phụ tùng ô tô. - Trước mắt không phát triển thêm các doanh nghiệp sản xuất ô tô cao cấp.
Các doanh nghiệp trong nước sản xuất và lắp ráp ô tô khi xây dựng các dự án đầu tư mới đều phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc lựa chọn các dự án đầu tư đã được xác lập trong quy hoạch phát triển ngành ô tô Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, tầm nhìn 2030. T 0 T 0 - Coi trọng đầu tư vào khu tư vấn thiết kế và chuyển giao công nghệ trong công nghiệp ô tô nhằm nâng cao năng lực cho ngành, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu phụ tùng ô tô. Mục tiêu phát triển. Phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt nam trên cơ sở tiếp thu và ứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới kết hợp khai thác và từng bước nâng cao công nghệ và thiết bị hiện có, đáp ứng phần lớn nhu cầu thị trường về phụ tùng và ô tô trong nước, hướng xuất khẩu phụ tùng và ô tô.
- Về các loại xe thông dụng (xe tải nhỏ, xe khách, xe con… ): Đạt tỷ lệ nội địa hóa 40 - 45% và đáp ứng trên 80% nhu cầu trong nước về số lượng năm 2015. - Về các loại xe chuyên dùng: Đạt tỷ lệ 60% nội địa hóa và đáp ứng khoảng 60% về số lượng. - Các loại xe du lịch do liên doanh hoặc doanh nghiệp trong nước sản xuất đạt tỷ lệ nội địa hóa là 40 – 45% vào năm 2015. - Các loại xe tải, xe khách cao cấp đạt tỷ lệ nội địa hóa đạt 35 – 40.
19 - Đồng thời phấn đấu xuất khẩu phụ tùng ô tô đạt 5 – 10% giá trị tổng sản lượng của ngành. Ngoài những yêu cầu đặt ra cho ngành công nghiệp sản xuất ô tô việt nam thì Chính Phủ có những giải pháp và chính sách hỗ trợ sau: + Các chính sách về thuế đối với ô tô, linh kiện phụ tùng ô tô. + Các chính sách và giải pháp về thị trường. + Bảo vệ thị trường.
+ Tạo lập thị trường. + Các chính sách và giải pháp về đầu tư. + Chính sách và giải pháp về khoa học và công nghệ. + Chính sách và giải pháp về nguồn nhân lực.
+ Các chính sách và giải pháp về huy động vốn. + Các chính sách và giải pháp về quản lý ngành. + Tổ chức thực hiện. Đặc điểm thị trường ô tô Việt nam.
Thị trường ô tô Việt nam có thể chia làm hai loại cơ bản như sau: - Với thị trường xe du lịch: Đây là thị trường có yêu cầu rất cao đòi hỏi phải có xe chất lượng cao kiểu dáng đẹp, tiện nghi hiện đại, vì xe phục phụ cho du lịch và mục đích trang trí vui chơi. Thị trường này dành cho giới thường lưu và các cơ quan doanh nghiệp chuyên chỉ phục phụ cho công việc đi lại của lãnh đạo nên nhu cầu ngày càng phát triển mạnh khi nền kinh tế pháp triển. Nhưng trong điều kiện hiện nay khi công nghệ của các nhà máy ô tô Việt nam chưa thể đáp ứng được yêu cầu thì thị phần này chủ yếu dành cho các công ty liên doanh với nước ngoài có công nghệ tiên tiến và xe nhập khẩu. - Với thị trường xe thương mại: Xe phục vụ cho mục đích kinh doanh vận tải như: xe bus, xe vận tải hang hóa, xe chuyên dùng.
Đây được đánh giá là thị trường nhiều 20 tiềm năng và rộng lớn, đồng thời có thể coi là vừa sức với các nhà máy ô tô Việt nam trong giai đoạn hiện nay. Trong xu thế dịch vụ vận tải hành khách công cộng và dịch vụ vận tải hàng hóa ngày càng cao, đặc biệt là loại hình xe bus và xe vận tải cỡ nhỏ phù hợp cho các vùng đô thị và nông thôn vận tải cung đường ngắn, số lượng ít. Hàng năm có hang nghìn xe hết niên hạn sử dụng theo nghị định 23/2004/QĐ – TTG của Thủ tướng chính phủ và lộ trình xe qua “ đát”. Từ 1/1/2005 sẽ loại bỏ 16.