CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÀI VÀ QUÁ TRÌNH MÀI PHẲNG 1. Tổng quan về mài Mài là một phương pháp gia công cắt gọt tốc độ cao. Quá trình cắt được thực hiện bởi một số lượng lớn các hạt mài gắn cứng trong đá mài. Đá mài là một dụng cụ cắt gọt được hình thành từ các hạt mài, chất dính kết và các lỗ trống như trên hình 1.
Để thực hiện quá trình mài, đá mài và chi tiết phải có các chuyển động cần thiết. Khi mài phẳng (hình 1.1a), thông thường đá mài có chuyển động quay tròn, còn chi tiết có chuyển động tịnh tiến khứ hồi. Các chuyển động chạy dao do ụ đá hoặc bàn máy thực hiện tùy thuộc vào kết cấu của từng loại máy sử dụng.hoa Luan van (Luan.1: Sơ đồ mài phẳng 1- Đá mài; 2 – Chuyển động chính; 3 - Bề mặt công tác của đá mài; 4- Chuyển động tiến dao; 5 - lỗ trống; 6 - Chất dính kết; 7 - Hạt mài. Mài là phương pháp gia công tinh các chi tiết cho độ bóng và chính xác cao, vì vậy nó có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình gia công chế tạo các sản phẩm cơ khí.
Mài có một số các đặc điểm đặc trưng sau: - Độ nhẵn bóng và độ chính xác đạt được rất cao (độ chính xác cấp 1-2, độ nhám bề mặt Ra = 0,2-3,2 m); - Vận tốc cắt của đá mài lớn V s = 30-50 m/s. Với các máy mài cao tốc, vận tốc cắt có thể đạt tới trên 100 m/s. Tốc độ cao là một trong những đặc điểm nổi bật của mài. Vận tốc này lớn hơn từ 10 - 60 lần so với vận tốc cắt khi tiện.
- Có thể cắt được chiều sâu cắt rất nhỏ t = 0,005- 0,09 mm; - Các hạt mài có khả năng tự mài sắc một phần; - Các hạt mài có độ cứng, độ giòn cao, độ bền nhiệt cao nên nó có khả năng gia công được các loại vật liệu có độ cứng, độ bền cao như: thép đã tôi, hợp kim cứng, thép bền nhiệt, v.hoa Luan van (Luan.hoa - Mài gia công được nhiều dạng bề mặt khác nhau như mặt phẳng, mặt trụ, mặt ren, mặt răng v.v… - Điều chỉnh, gá đặt chi tiết đơn giản, không tốn nhiều thời gian. Có thể thay đổi chế độ cắt ngay trong quá trình gia công. Tuy nhiên mài vẫn còn một số hạn chế: - Nhiệt cắt sinh ra trong quá trình mài rất lớn (800-1000 oC) (do vận tốc cắt lớn, các hạt mài thường có góc trước âm), biến dạng kim loại lớn gây ra các hiện tượng như cháy, nứt tế vi và ứng suất dư. - Do cấu trúc hình học tế vi bề mặt đá mài rất phức tạp, sắp xếp các hạt mài và sự hình thành các lưỡi cắt trên hạt mài là ngẫu nhiên nên việc điều khiển quá trình mài gặp nhiều khó khăn.
- Mài tinh thường đắt hơn so với các phương pháp gia công khác tính theo thể tích vật liệu bị cắt đi, khi gia công các mặt định hình việc sửa đá rất phức tạp, do đó mài chỉ được dùng trong các trường hợp cần thiết.hoa Luan van (Luan.2: Sơ đồ mô tả quan hệ của các thông số vào-ra của quá trình mài [7] Quá trình mài còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Các thông số đầu ra phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố (hình 1.2) và điều kiện gia công cũng như tình trạng cụ thể của máy [3]; [4]; [5]. Quy luật biến đổi của các thông số không ổn định theo thời gian.hoa Luan van (Luan.hoa Vì vậy, để nâng cao hiệu quả, tính ổn định của quá trình mài cho các điều kiện gia công khác nhau, việc nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ mài là rất cần thiết đối với gia công cơ hiện nay. Ngày nay có nhiều phương pháp tạo phôi tiên tiến, lượng dư gia công rất nhỏ.
Mài cho phép gia công trực tiếp đạt kích thước mà không cần qua các phương pháp gia công bán tinh như tiện, phay, bào.do đó giảm được giá thành gia công và tăng được độ chính xác. Mài phẳng và các đặc điểm đặc trưng của quá trình mài 1. Bản chất của quá trình mài phẳng: Mài phẳng là một phương pháp gia công tinh bằng hạt mài. Quá trình cắt khi mài được thực hiện bởi một số lượng lớn hạt mài liên kết với nhau nhờ chất dính kết và phân bố không có quy luật trên bề mặt làm việc của đá mài.
Đá mài thường được cấu tạo bởi hỗn hợp của 2 loại vật liệu là: Vật liệu hạt mài (thường là các hạt rất nhỏ, sắc, có nhiều lưỡi cắt, với góc trước âm và rất cứng làm nhiệm vụ cắt) và chất kết dính (thường mềm hơn để liên kết các hạt mài theo một hình dạng đá và tạo ra độ bền cho đá). Người ta ép chúng theo một tỷ lệ nhất định để tạo thành đá mài. Trong quá trình mài, các hạt mài có thể bị mài mòn hoặc bị rơi ra khỏi bề mặt đá để lộ ra lớp hạt mài mới có tính năng cắt gọt tốt hơn. Đây chính là khả năng tự sửa đá mài.
Tuy nhiên nếu số lượng hạt mài bị rơi ra khỏi bề mặt đá lớn làm đá bị mòn nhanh sẽ giảm tính năng cắt gọt và đặc biệt là nó gây ra sai số về kích thước, độ sóng bề mặt gia công. Mài là phương pháp phổ biến để gia công tinh cuối cùng của một quá trình công nghệ, do mài có ưu điểm là có thể cắt được chiều sâu cắt rất nhỏ, yêu cầu vận tốc chi tiết khá cao, điều chỉnh và gá đặt chi tiết đơn giản, không tốn nhiều thời gian, có thể thay đổi chế độ cắt ngay trong quá trình gia công. Thường từ (0,005 – 0,09 mm) nhằm đạt độ bóng và độ chính xác rất cao (thường từ cấp 7 – 9, nhám bề 18 (Luan.hoa Luan van (Luan.hoa mặt từ 0,2 – 3,2 m). Không có phương pháp gia công nào có thể sánh được với mài về độ bóng và độ chính xác gia công.
Mài đặc biệt quan trọng khi gia công với độ chính xác cao. Ví dụ, khi gia công các lát silíc trong công nghệ vi điện tử, khi đó người ta dùng các đĩa mài hoặc cưa cực mỏng (chỉ dầy khoảng 20 m). Ngoài ra mài còn được sử dụng gia công thô, bạt mấu phôi trong các phân xưởng tạo phôi, cắt đứt, làm sạch các thỏi thép trong các xưởng đúc và trong các nhà máy thép với tốc độ khoảng 1600 cm3/ph bằng máy mài có công suất 220 kw v.v…nhờ có tốc độ cắt rất cao và có thể bóc đi lớp vỏ cứng của bề mặt phôi. Tốc độ cao cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của mài, tốc độ mài thường từ 30 – 50 m/s (từ 1800 – 3000 v/p), với mài cao tốc vận tốc cắt khoảng 100 m/s hoặc cao hơn.
Vận tốc này lớn hơn từ 10 – 60 lần so với vận tốc cắt khi tiện, thời gian mài diễn ra rất nhanh (khoảng 10-4 – 10-5s). Nhờ có tốc độ cắt cao mà động năng của các hạt mài đủ lớn để không bị rơi ra khỏi bề mặt đá mài trong quá trình tách phoi. Tuy nhiên tốc độ cắt cao cộng với các góc mài không hợp lý (thường các hạt mài có hình dạng bất kỳ và có góc cắt không hợp lý: góc cắt lớn và góc trước âm) nên nhiệt cắt sinh ra trong quá trình mài rất lớn (1000 – 1500 oc), làm biến dạng cấu trúc mạng tinh thể và biến đổi các tính chất cơ lý lớp vật liệu bề mặt. Khi mài thường gây ra các khuyết tật như: Cháy mài, thoát các bon, nứt tế vi, ứng suất dư (ứng suất dư khi mài là ứng suất dư kéo).
Cùng với giá thành mài, nó cũng là các trở ngại chính làm hạn chế khả năng công nghệ của các phương pháp mài thông thường.hoa Luan van (Luan.2 Các sơ đồ cắt khi mài phẳng 1.1 Mài phẳng bằng đá mài mặt đầu (hình 1.3: Mài phẳng bằng đá mài mặt đầu Phương pháp này cho năng suất bóc phoi lớn vì số lượng hạt mài tham gia cắt đồng thời lớn. Tuy nhiên, diện tích tiếp xúc giữa đá và bề mặt chi tiết gia công lớn, nhiệt cắt lớn, dễ gây ra cháy, nứt tế vi và biến dạng nhiệt trên vật mài. Mài phẳng bằng đá mài hình trụ Mài theo phương pháp này diện tích tiếp xúc giữa đá và phôi nhỏ, số lượng hạt mài tham gia cắt gọt đồng thời ít hơn, nhiệt trên bề mặt tiếp xúc giữa đá và phôi giảm, do đó độ chính xác gia công đạt được cao hơn phương pháp mài bằng mặt đầu của đá. Mặt khác, khả năng thoát nhiệt, thoát phoi tốt, việc tưới dung dịch trơn nguội thuận lợi hơn nên có thể gia công được các chi tiết mỏng, kém cứng vững, chi tiết yêu cầu độ chính xác cao.
Khi mài phẳng trên máy mài thông thường, đá thường được gá trên trục gá của đầu đá và đỡ bằng bạc ba mảnh. Trục đá quay tròn với tốc độ không đổi. Tuỳ theo loại máy và đường kính đá mài, trên các máy mài thông thường, 20 (Luan.hoa Luan van (Luan.hoa vận tốc cắt khi mài vào khoảng V s = 30-50 m/s và có thể lên tới 100 m/s hoặc lớn hơn trên các máy mài cao tốc. Chi tiết gia công đựơc gá trực tiếp trên bàn máy hoặc bàn từ và có chuyển động tịnh tiến khứ hồi để gia công hết chiều dài chi tiết.
Vận tốc chuyển động của chi tiết vào khoảng V = 3- 45 m/ph. Trong quá trình gia công, ụ đá có chuyển động tịnh tiến gián đoạn để gia công hết chiều rộng của chi tiết. Vận tốc của dịch chuyển này có thể thay đổi vô cấp từ S = 2 – 40 mm/hành trình kép tuỳ theo loại máy. Toàn bộ chiều sâu cắt có thể được cắt đi sau một hoặc nhiều lần ăn dao theo phương thẳng đứng nhờ chuyển động tịnh tiến lên xuống của ụ đầu đá.
Trong quá trình mài, dung dịch tưới nguội được cấp liên tục vào vùng cắt để làm nguội chi tiết, đẩy phoi và các phế thải ra ngoài, tạo điều kiện cho quá trình mài được dễ dàng, giảm ứng suất dư, biến dạng nhiệt, nứt tế vi, các vết xước.3 Động học quá trình cắt khi mài [4]; [6] 1. Chiều dài tiếp xúc giữa đá mài và phôi Trên hình 1.4 là mô tả hình học của quá trình cắt khi mài phẳng. Chiều dài cung tiếp xúc lc là chiều dài từ A đến B: (1-1) ds – đường kính đá mài; a- chiều sâu cắt khoảng 10 - 50 μm.