CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ DỆT 1. Sơ lược về cấu trúc vải dệt thoi Từ các công trình nghiên cứu về cấu trúc vải dệt thoi của các nhà khoa học: GS Laugovoi, GS S. AG Raruvaiev, GS. PF Erchenko, GS.
Fedorov… tiêu biểu là G. Novikov [1, 2] có thể rút ra các kết luận: - Vải dệt thoi là sản phẩm của quá trình dệt do hai hệ sợi dọc, sợi ngang đan thẳng góc với nhau theo một quy luật nhất định, quy luật này là kiểu dệt. - Cấu trúc vải phụ thuộc vào một loạt yếu tố như chi số sợi dọc, chi số sợi ngang, mật độ sợi dọc, mật độ sợi ngang, kiểu dệt và các thông số công nghệ trong quá trình dệt. - Giảm chi số sợi dọc và tăng chi số sợi ngang thì độ uốn sợi dọc giảm, tức là sợi dọc sẽ nằm ở tư thế thẳng đứng hơn trong vải, còn sợi ngang tăng độ uốn tức là uốn cong nhiều hơn do đó cấu trúc của vải biến đổi; và như vậy, các tính chất cơ - lý của vải cũng biến đổi theo.
- Mật độ sợi trong vải đặc trưng cho tần số phân bố sợi trong vải. Mật độ sợi dọc và sợi ngang trong vải có thể bằng hoặc khác nhau. Trong từng trường hợp, kết cấu vải sẽ thay đổi tuỳ thuộc tỷ số mật độ sợi dọc và mật độ sợi ngang. Mật độ lý thuyết của sợi dọc Pdlt và sợi ngang Pnlt được xác định theo các công thức: Pdlt = 1 Nd ; Pnlt = 1 Nn c 1 c 1 (1) Trong đó : C1 - Hằng số nguyên liệu (bông c = 1,25; len c = 1,33…) Nd, Nn - Chi số sợi dọc, chi số sợi ngang - Kiểu dệt - Kiểu đan của sợi trong vải tức là sự bố trí chồng chéo giữa các sợi với nhau.
Nhìn chung, thay đổi sự bố trí của sợi sẽ làm thay đổi kết cấu vải. Tại các điểm đan tức là chỗ tiếp xúc của hai hệ sợi, sợi uốn cong theo một góc ôm nhất định và ép vào nhau tạo nên lực ma sát khi vải chịu ngoại lực tác dụng. Lực ma sát càng Nguyễn Thị Thanh Lịch 14 Ngành CN Vật liệu Dệt may Luận văn cao học Khóa 2009 - 2011 lớn, cấu trúc vải càng chặt chẽ, độ bền sử dụng của vải càng tăng. Vải có thể có kiểu dệt cơ bản, kiểu dệt dẫn xuất hoặc kiểu dệt phức tạp.
Dưới đây là một số kiểu dệt thông dụng. + Kiểu dệt vân điểm: Là kiểu dệt đan kết chặt chẽ nhất trong các kiểu dệt do đặc điểm kiểu dệt này điểm nổi được phân bố tương đối đều trên mặt vải, vải bền nhưng cứng. Kiểu dệt này dệt các loại vải như : Phin, pôpôlin, diềm bâu, lụa tơ tằm, calico, katê, vải tám, voile, crêpa-de chime, vải bạt và một số loại vải kỹ thuật như vải mành, vải lọc… Kiểu dệt vân điểm có thông số cấu tạo : Rd = Rn = R = 2 sợi; S = 1 (Hình 1.1) Trong đó: Rd = Rn = R - Là Ráp po dọc, Ráp po ngang và Ráp po kiểu dệt S - Là bước chuyển 2 1 1 2 Hình 1. Kiểu dệt vân điểm 1/1 + Kiểu dệt vân chéo: So với kiểu dệt vân điểm thì vải có kiểu dệt vân chéo đan kết giữa các sợi trong vải lỏng lẻo hơn.
Thông thường kiểu dệt này thường sử dụng dệt vải kaki, vải gabadin, vải xanh chéo, vải jean, vải cheviot, vải denim. Vải vân chéo có thông số cấu tạo: Rd = Rn = R ≥ 3 sợi; S = ± 1 (Hình 1. Kiểu dệt vân chéo 2/1 Nguyễn Thị Thanh Lịch 15 Ngành CN Vật liệu Dệt may Luận văn cao học Khóa 2009 - 2011 4 4 3 3 2 2 1 1 1 2 3 4 1 2 3 4 Hình 1. Kiểu dệt vân chéo 3/1 Vải vân chéo có thông số cấu tạo : Rd = Rn = R ≥ 3 sợi ; S = ± 1 + Kiểu dệt vân đoạn (Hình 1.5): Kết cấu của kiểu dệt này kém chặt chẽ, vải mềm.
Thông thường kiểu dệt này dùng để dệt vải láng (hiệu ứng dọc) hoặc vải satanh (hiệu ứng ngang). Kiểu dệt vân đoạn có thông số cấu tạo : Rd = Rn = R ≥ 5 sợi; 1< S < R-1. Giữa R và S không có ước số chung. Kiểu dệt vân đoạn 5/2 (hiệu ứng ngang) 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 Hình 1.
Kiểu dệt vân đoạn 5/2 (hiệu ứng dọc) Nguyễn Thị Thanh Lịch 16 Ngành CN Vật liệu Dệt may Luận văn cao học Khóa 2009 - 2011 - Cấu trúc vải còn đặc trưng bởi độ co sợi dọc và độ co sợi ngang trong vải. Trong quá trình hình thành vải, do tác dụng qua lại mà sợi dọc và sợi ngang trong vải uốn cong. Điều này chế định bởi sự sai biệt giữa chiều dài sợi đi vào vải và chiều dài vải làm ra. Mật độ sợi dọc càng lớn thì độ co ngang càng cao và mật độ sợi ngang càng lớn thì độ co dọc càng cao.
Ngoài ra, độ co còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nguyên liệu sợi, chi số sợi, kiểu dệt và các thông số công nghệ trong quá trình dệt. Mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vải như mật độ sợi, kiểu dệt, độ co, chi số sợi… đã được các nhà khoa học mô tả dưới dạng các phương trình toán học phức tạp, chứa nhiều hệ số thay đổi và lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Vì vậy, khi áp dụng các kết quả nghiên cứu này vào một trường hợp cụ thể gặp nhiều khó khăn và đôi khi không thực hiện được. Hơn nữa, để đạt được các kết quả nghiên cứu về cấu trúc vải, các tác giả đã giả thiết sợi trong vải có dạng hình tròn.
Trong thực tế, trong vải sợi đã bị nén ép và có tiết diện không phải thực sự là hình tròn. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc vải của các tác giả là rất có giá trị, giúp ta hiểu sâu sắc trạng thái hình học của vải và các yếu tố ảnh hưởng, giải thích sự thay đổi tính chất cơ - lý của vải trên cơ sở khoa học và còn là nền tảng để phát triển các nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc vải. Tóm tắt lý thuyết về thông số công nghệ dệt: Một loạt công trình nghiên cứu khoa học [1, 2, 3, 4, 5] đã chỉ ra rằng, cấu trúc vải chịu ảnh hưởng nhiều của sức căng sợi dọc, sức căng sợi ngang trong quá trình dệt. Các thông số công nghệ này lại phụ thuộc vào một loạt thông số công nghệ khác như: Tốc độ máy dệt, kích thước miệng vải, độ chập, vị trí trục cảm ứng sức căng và các yếu tố khác.
Trong phần tổng quan này chỉ đề cập đến các thông số công nghệ quan trọng nhất và thường xuyên phải điều chỉnh khi thay đổi mặt hàng dệt. Nguyễn Thị Thanh Lịch 17 Ngành CN Vật liệu Dệt may Luận văn cao học Khóa 2009 - 2011 1. Tốc độ máy dệt: Tốc độ máy dệt là số vòng quay của trục chính trong thời gian một phút, phạm vi tốc độ của máy dệt tùy thuộc vào từng kiểu máy dệt. Tốc độ máy dệt là một thông số công nghệ rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến lực tương tác giữa các cơ cấu, độ bền của chi tiết và tuổi thọ của máy dệt.
Tốc độ của máy dệt còn ảnh hưởng đến sức căng hay độ đứt sợi dọc, sợi ngang trong quá trình dệt và năng suất máy dệt. Tốc độ đưa sợi ngang phụ thuộc vào góc quay trục chính máy dệt 1- Máy dệt kẹp 2- Máy dệt kiếm Gabler 3- Máy dệt kiếm Dewas Tốc độ máy dệt n và năng suất máy dệt [6] được xác định theo các công thức: vtb. kci (msn/phút) (2) Ở đây: vtb – Tốc độ trung bình của vật thể đưa sợi ngang (thoi, kẹp kiếm…) [m/s] ϕ ° – Góc quay của trục chính máy dệt tương ứng với thời gian đưa sợi ngang qua miệng vải [độ ] kci – Hiệu suất của máy dệt (%) Bms – Khổ rộng mắc sợi [m] Sm – Đoạn đường vật thể đưa sợi ngang chuyển động ngoài khổ vải Nguyễn Thị Thanh Lịch 18 Ngành CN Vật liệu Dệt may Luận văn cao học Khóa 2009 - 2011 (m = 0,1 m đối với máy dệt thông thường) [m] Alt , Alt – Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của máy dệt: mét sợi ngang dệt được trong một phút [msn/phút] Đối với các máy dệt một miệng vải, φ = 120 ÷ 180º.6 là tốc độ đưa sợi ngang phụ thuộc vào góc quay trục chính máy dệt. Như vậy, tốc độ máy dệt càng lớn, tốc độ vtb của vật thể đưa sợi ngang càng cao, năng suất máy dệt càng tăng.
Tuy nhiên, khi v tb tăng đồng nghĩa với việc tăng sức căng sợi ngang, độ đứt sợi ngang tăng làm hiệu suất máy dệt giảm xuống. Trong thực tế, hiệu suất máy dệt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng sợi dọc, sợi ngang, phương pháp cấp sợi dọc, sợi ngang, tình trạng hoạt động của máy dệt vv…Vì vậy, mối liên quan toán học giữa tốc độ máy dệt, hiệu suất máy dệt và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất máy dệt cho đến nay chưa được xác lập. Kích thước miệng vải: Trong quá trình dệt, tại vùng tạo miệng vải (Hình 1.7), sợi dọc bị kéo căng, uốn khúc và ma sát với các mắt go. Sơ đồ miệng vải cơ bản A– Đường dệt; C– Vị trí que tách sợi (la men); ABC– Sợi dọc ở vị trí mở miệng vải; L 1, L2 – Chiều dài phần trước, phần sau miệng vải; L– Chiều dài toàn phần của miệng vải, hm– Chiều cao miệng vải được xác định theo công thức: Nguyễn Thị Thanh Lịch 19 Ngành CN Vật liệu Dệt may Luận văn cao học Khóa 2009 - 2011 h m2 ⎛ 1 1 ⎞ h2 .L 2 Công thức này chứng tỏ: Biến dạng của sợi dọc khi tạo miệng vải tỷ lệ với bình phương chiều cao miệng vải và phụ thuộc vào chiều dài phần trước, phần sau của miệng vải.
Biến dạng này đạt giá trị nhỏ nhất trong trường hợp miệng vải đối xứng qua go (L1 = L2). Theo định luật Hook, lực (ở đây là sức căng) tỷ lệ với biến dạng. Nghĩa là, biến dạng (độ giãn) càng lớn, sức căng sợi dọc càng lớn. và như vậy, độ đứt của sợi dọc càng tăng.
Các nghiên cứu về sức căng sợi dọc trong quá trình dệt đã chỉ ra rằng, để quá trình dệt diễn ra bình thường và bảo đảm đạt được năng suất cao, biến dạng của sợi dọc không được phép vượt quá giới hạn đàn hồi của sợi dọc.