Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây khoai lang (Ipomoea batatas L.) là một trong bốn cây lương thực chính tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực và cung cấp nguồn thức ăn cho chăn nuôi gia súc, đặc biệt là tại các vùng đất cằn cỗi, vùng trung du miền núi, ven biển và những khu vực chịu hạn hán, mất mùa lúa. Mặc dù khoai lang có tính thích ứng rộng, không kén đất và có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất nghèo dinh dưỡng, bạc màu, năng suất trung bình của cây khoai lang tại Việt Nam vẫn ở mức thấp so với thế giới. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn, năm 2010 năng suất khoai lang trung bình cả nước chỉ đạt 8,74 tấn/ha; trong đó vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đạt mức thấp nhất là 6,31 tấn/ha, chênh lệch rất lớn so với Đồng bằng sông Cửu Long (20,61 tấn/ha).

Thực trạng canh tác tại nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Quảng Nam, cho thấy khoai lang chủ yếu được trồng theo phương thức quảng canh, tận dụng diện tích đất trống với mức đầu tư phân bón rất hạn chế. Người nông dân duy trì các tập quán canh tác truyền thống lâu đời, chưa chú trọng đến việc cân đối dinh dưỡng khoáng. Mặc dù khoai lang có nhu cầu dinh dưỡng tăng vọt ở giai đoạn hình thành và phình to củ, đặc biệt là nguyên tố kali, người sản xuất tại huyện Thăng Bình chưa xác định được liều lượng phân bón kali thích hợp. Tình trạng thiếu hụt hoặc bón kali không hợp lý dẫn đến năng suất thấp, tỷ lệ củ nhỏ cao, phẩm chất tinh bột kém và cây dễ bị sâu bệnh phá hại.

Xuất phát từ thực tế sản xuất trên, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định mức bón phân kali thích hợp trên nền phân đạm và lân cố định để cây khoai lang sinh trưởng và phát triển thuận lợi.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng kali khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và tỷ lệ chất khô của củ khoai lang.
  3. Tính toán chi phí đầu tư, doanh thu và xác định hiệu quả kinh tế của từng công thức phân bón, từ đó đề xuất liều lượng kali tối ưu phục vụ sản xuất thực tế tại địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Phân bón kali (dạng phân đơn K2O) và giống khoai lang Đà Nẵng (đặc điểm vỏ trắng, ruột trắng, giàu tinh bột, được trồng phổ biến tại địa bàn).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Đất canh tác nông nghiệp tại xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
    • Thời gian: Vụ Đông Xuân 2018 – 2019 (theo dõi thực nghiệm từ tháng 1/2019 đến tháng 4/2019; số liệu khí tượng thu thập từ tháng 12/2018 đến tháng 3/2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên cơ sở lý thuyết về sinh thái học, hình thái - giải phẫu thực vật học và sinh lý dinh dưỡng khoáng của cây khoai lang (Ipomoea batatas L.) thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae). Về mặt sinh lý, khoai lang có nhu cầu cao đối với ba nguyên tố đa lượng N, P, K. Trong đó, đạm thúc đẩy sinh trưởng thân lá ở giai đoạn đầu, lân kích thích bộ rễ phát triển sớm, còn kali đóng vai trò then chốt trong việc xúc tiến quá trình phân chia tế bào tầng phát sinh củ, tăng cường hoạt động vận chuyển các hợp chất hữu cơ (carbohydrate, đường, tinh bột) từ bộ máy quang hợp ở thân lá về tích lũy trong rễ củ. Nghiên cứu cũng kế thừa kết quả thực nghiệm bón kali trên giống khoai lang tím Nhật tại huyện Tân Bình, tỉnh Vĩnh Long (năng suất thương phẩm đạt tối ưu ở mức 200 kg K2O/ha).

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm đồng ruộng theo quy chuẩn nông học:

  • Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD - Randomized Complete Block Design) với 4 công thức nghiệm thức, nhắc lại 3 lần (I, II, III). Tổng diện tích mặt bằng thí nghiệm là 88,7 m², bao gồm:
    • Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 5,0 m² (gồm 2 luống kích thước 2,5 m × 1 m × 2 luống).
    • Diện tích dải cách ly: 8,7 m².
    • Diện tích bảo vệ: 20 m².
  • Các công thức thí nghiệm (tính trên 1 ha):
    • Công thức 1 (Đối chứng - ĐC): 70 kg N + 35 kg P2O5 + 70 kg K2O (mức bón theo tập quán canh tác địa phương).
    • Công thức 2: 70 kg N + 35 kg P2O5 + 105 kg K2O.
    • Công thức 3: 70 kg N + 35 kg P2O5 + 140 kg K2O.
    • Công thức 4: 70 kg N + 35 kg P2O5 + 175 kg K2O.
  • Biện pháp kỹ thuật áp dụng: Sử dụng đoạn thân dây giống dài 35 cm có sẵn rễ; bón lót phân chuồng; bón thúc đợt 1 sau khi trồng 15 ngày; bón thúc đợt 2 sau 20 ngày tiếp theo; tiến hành nhấc dây (không lật úp dây) sau mỗi đợt bón thúc nhằm cắt đứt rễ phụ mọc ở các đốt thân bò, tập trung dinh dưỡng nuôi củ chính. Chế độ tưới nước thực hiện qua rãnh luống ngập 1/3 - 1/2 chiều cao luống và rút cạn vào sáng hôm sau.
  • Phương pháp theo dõi chỉ tiêu:
    • Thời gian sinh trưởng: Ghi nhận số ngày từ trồng đến khi đạt 70% số cây hồi xanh, 70% số cây phân cành cấp 1, thời điểm dây phủ kín mặt luống, ngày xuất hiện hoa đầu tiên và ngày bới kiểm tra thấy củ phình rõ dạng.
    • Chỉ tiêu năng suất: Đếm tổng số củ/dây; cân trọng lượng củ trung bình (đối với củ đạt đường kính ≥ 2 cm, chiều dài ≥ 5 cm); tính năng suất lý thuyết (NSLT = Số củ/dây × Trọng lượng trung bình 1 củ × Mật độ dây/ha); tính năng suất thực thu (NSTT = Trọng lượng củ thu hoạch trên 1 m² × 10.000 m²).
    • Chỉ tiêu phẩm chất: Xác định tỷ lệ % chất khô bằng phương pháp sấy mẫu củ tươi ở nhiệt độ 60 - 70°C trong tủ sấy điện đến khi độ ẩm đạt 8 - 12%; đánh giá cảm quan độ ngọt, độ bở, bùi theo thang điểm 10.
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu thực nghiệm được xử lý phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) trên phần mềm Statistic 10 để tính sai số thí nghiệm (CV%) và mức sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất (LSD0,05). Các bảng biểu, đồ thị được xử lý bằng Microsoft Excel 2010.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại ruộng thí nghiệm; dữ liệu thứ cấp từ tài liệu thống kê của FAOSTAT (2013), Tổng cục Thống kê (2013) và số liệu khí tượng thủy văn vụ Đông Xuân 2018 - 2019 của địa bàn xã Bình Chánh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu và tài liệu khoa học liên quan đến cây khoai lang:

  • Khái quát lịch sử nghiên cứu phân bón kali, nhấn mạnh thử nghiệm tại Vĩnh Long chứng minh mức bón 200 kg K2O/ha giúp tăng năng suất củ thương phẩm lên 30,7 tấn/ha (tăng 57,4% so với đối chứng không bón kali).
  • Trình bày nguồn gốc khoai lang từ vùng nhiệt đới châu Mỹ La-tinh (khu vực bán đảo Yucatan và lưu vực sông Orinoco) cùng tình hình sản xuất toàn cầu giai đoạn 2007 – 2011 (năm 2007 đạt diện tích 8.196 nghìn ha, năng suất 13,11 tấn/ha, sản lượng 104,260 triệu tấn).
  • Phân tích hiện trạng phân vùng sản xuất khoai lang ở Việt Nam năm 2010: diện tích cả nước là 150,8 nghìn ha, sản lượng 1.318,5 nghìn tấn; chỉ rõ sự chênh lệch lớn về năng suất giữa các vùng sinh thái.
  • Hệ thống hóa các đặc điểm thực vật học của khoai lang: phân loại 3 dạng rễ (rễ con, rễ đực/rễ sừng bò, rễ củ); cấu trúc phân cành của thân chính và các thân phụ; hình dạng phiến lá, màu sắc cuống lá và chỉ số diện tích lá tối ưu (4,0 - 4,5); đặc điểm hoa hình chuông tràng phễu, quả sóc và hạt vỏ cứng.
  • Nêu rõ giá trị kinh tế - xã hội và giá trị sử dụng: dữ liệu dinh dưỡng USDA trong 100g củ tươi (86 kcal năng lượng, 20,1g carbohydrate, 1,6g protein, 337mg kali, 709 mg vitamin A); cơ cấu sử dụng khoai lang trên thế giới theo FAO (77% làm lương thực, 13% làm thức ăn gia súc, 3% chế biến công nghiệp, 6% hao hụt).
  • Phân tích các nhân tố ngoại cảnh chi phối (nhiệt độ tối thích cho nảy mầm 20 - 25°C, phân cành kết củ 25 - 28°C; phản ứng ánh sáng ngày ngắn dưới 13 giờ; nhu cầu nước khoảng 500 mm/vụ; đất cát pha hoặc thịt nhẹ tơi xốp) và đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Bình Chánh (nhiệt độ bình quân 24,8 - 30,0°C, lượng mưa thấp trong tháng 1 - 2/2019 đòi hỏi phải chủ động tưới rãnh).

Chương 2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy chuẩn kỹ thuật và quy trình thực hiện đề tài:

  • Vật liệu nghiên cứu: Giống khoai lang Đà Nẵng (dạng thân bò, củ vỏ trắng, ruột trắng, hàm lượng tinh bột cao) và các loại phân hóa học đơn gồm đạm Urê, supe lân và kali clorua.
  • Điều kiện đồng ruộng: Đất cát thịt tơi xốp, địa hình bằng phẳng, thuận lợi tưới tiêu tại xã Bình Chánh.
  • Quy cách bố trí thí nghiệm: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) gồm 4 công thức (CT1: 70N + 35P2O5 + 70K2O; CT2: 70N + 35P2O5 + 105K2O; CT3: 70N + 35P2O5 + 140K2O; CT4: 70N + 35P2O5 + 175K2O tính theo kg/ha), 3 lần nhắc lại trên tổng diện tích 88,7 m².
  • Quy trình kỹ thuật canh tác: Đất được cày bừa kỹ, làm tơi xốp, lên luống theo hướng đông - tây với chiều rộng 1 - 1,2 m, chiều cao 30 - 45 cm nhằm giảm tác động gió mùa và hiện tượng nắng chiếu trực diện gây hại củ; bón lót phân chuồng kết hợp bón thúc 2 đợt; nhấc dây sau bón thúc để hạn chế rễ đốt thân phụ; thu hoạch sau 95 ngày trồng.
  • Phương pháp quan sát, thu thập số liệu hình thái, các công thức toán học tính toán năng suất lý thuyết, năng suất thực thu, tỷ lệ % chất khô và quy trình xử lý thống kê bằng phần mềm Statistic 10 và Excel 2010.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm đo đạc và phân tích tác động của liều lượng kali:

  • Sinh trưởng và phát triển: Thời gian hồi xanh dao động từ 3,63 đến 3,95 ngày, trong đó CT4 hồi xanh nhanh nhất (3,63 ngày), sai khác không lớn giữa các công thức. Thời gian phân cành có sự khác biệt rõ: CT3 đạt sớm nhất (8,48 ngày), tiếp đến là CT4 (8,50 ngày), nhanh hơn CT1 (9,25 ngày) và CT2 (9,40 ngày) với LSD0,05 = 0,62. Thời gian thu hoạch của tất cả các công thức đều cố định ở 95 ngày.
  • Thời điểm ra hoa, phủ kín luống và hình thành củ: Cả 4 công thức đều ra hoa đầu tiên sau 20 ngày trồng (do đặc điểm hom giống đã già mang sẵn mầm hoa). Thời gian phủ luống ở CT3 và CT4 đều đạt 34 ngày, sớm hơn CT1 và CT2 (35 ngày) với LSD0,05 = 0,74. Thời gian hình thành củ rõ dạng ở cả 4 công thức đều ghi nhận tại thời điểm 63 ngày sau trồng.
  • Các yếu tố cấu thành năng suất và tỷ lệ chất khô:
    • Số củ/dây: CT4 đạt cao nhất (4,9 củ/dây), CT3 đạt 4,73 củ/dây, CT2 đạt 4,2 củ/dây và CT1 đạt 4,1 củ/dây (LSD0,05 = 0,5).
    • Trọng lượng 1 củ: Tăng mạnh tỷ lệ thuận với lượng kali. CT4 đạt 198,6 g; CT3 đạt 187,4 g; CT2 đạt 178,7 g; CT1 chỉ đạt 127,0 g (LSD0,05 = 40,24).
    • Tỷ lệ chất khô trong củ: Tăng dần theo lượng kali bón từ 28% (CT1), 29% (CT2), 31% (CT3) lên 33% (CT4) với LSD0,05 = 2,82.
  • Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu:
    • Năng suất lý thuyết: CT4 đạt cao nhất (78,40 tạ/ha), tiếp theo là CT3 (71,90 tạ/ha), CT2 (60,48 tạ/ha) và CT1 (42,64 tạ/ha).
    • Năng suất thực thu: Tăng rõ rệt từ CT1 (32 tạ/ha) lên CT2 (42 tạ/ha), CT3 (63 tạ/ha) và đạt đỉnh ở CT4 (69 tạ/ha) với LSD0,05 = 22,11.
    • Phẩm chất cảm quan: Đánh giá cảm quan khoai luộc đạt điểm bở, bùi là 8/10 điểm; độ ngọt đạt 7/10 điểm (vị ngọt thanh).
  • Hiệu quả kinh tế: Với giá bán 7.000 đồng/kg củ tươi và tổng chi phí đầu tư (gồm phân bón, giống 2 triệu đồng, nhân công 97,5 triệu đồng, điện nước 35 triệu đồng), hiệu quả kinh tế (lợi nhuận thuần) đạt: CT1 là 87,488 triệu đồng/ha; CT2 là 199,185 triệu đồng/ha; CT3 là 303,815 triệu đồng/ha; CT4 là 359,459 triệu đồng/ha.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng rõ ràng về phản ứng của giống khoai lang Đà Nẵng đối với các mức bón phân kali trên vùng đất cát thịt tại Thăng Bình, Quảng Nam:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị CT1 (ĐC) (70 kg K2O) CT2 (105 kg K2O) CT3 (140 kg K2O) CT4 (175 kg K2O) LSD0,05 CV%
Thời gian hồi xanh ngày 3,95 3,75 3,90 3,63 0,14 2,82
Thời gian phân cành ngày 9,25 9,40 8,48 8,50 0,62 5,50
Thời gian phủ kín luống ngày 35 35 34 34 0,74 1,68
Số củ/dây củ 4,10 4,20 4,73 4,90 0,50 8,71
Trọng lượng trung bình 1 củ gam 127,0 178,7 187,4 198,6 40,24 18,32
Trọng lượng củ/m² kg 3,2 4,2 6,3 6,9 2,21 33,79
Tỷ lệ chất khô % 28 29 31 33 2,82 7,34
Năng suất lý thuyết tạ/ha 42,64 60,48 71,90 78,40 19,90 24,73
Năng suất thực thu tạ/ha 32,0 42,0 63,0 69,0 22,11 33,81
Chi phí phân bón triệu đồng/ha 2,012 2,351 2,675 3,041 - -
Tổng tiền thu được (doanh thu) triệu đồng/ha 224,0 336,0 441,0 497,0 - -
Hiệu quả kinh tế (lợi nhuận) triệu đồng/ha 87,488 199,185 303,815 359,459 - -

(Ghi chú: Tại bảng 3.5 của văn bản gốc, dòng năng suất dùng tính toán kinh tế ghi nhận số liệu lần lượt là CT1: 32 tạ/ha, CT2: 48 tạ/ha, CT3: 63 tạ/ha, CT4: 71 tạ/ha tương ứng với các mức tổng doanh thu).

  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
    • Về mặt kỹ thuật nông học thuần túy, CT4 (175 kg K2O/ha) đạt các chỉ tiêu cao nhất về năng suất thực thu (69 tạ/ha) và hiệu quả kinh tế (359,459 triệu đồng/ha).
    • Tuy nhiên, khi xét trên phương diện ứng dụng thực tiễn sản xuất đại trà, tác giả kiến nghị đưa Công thức 3 (70 kg N + 35 kg P2O5 + 140 kg K2O/ha) vào áp dụng cho người dân địa phương. Lý do tác giả nêu ra là mức chênh lệch năng suất thực thu giữa CT3 (63 tạ/ha) và CT4 (69 tạ/ha) không quá lớn, trong khi CT3 tiết kiệm được chi phí phân bón đầu tư ban đầu và giảm thiểu nguy cơ thoái hóa đất do dư thừa hóa chất.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Khóa luận làm sáng tỏ vai trò của phân kali đối với giống khoai lang Đà Nẵng tại vùng đất cát thịt tỉnh Quảng Nam, chỉ ra rằng việc bón tăng kali từ 70 kg/ha lên 140 - 175 kg/ha giúp nâng năng suất thực thu lên gấp đôi (từ 32 tạ/ha lên 63 - 69 tạ/ha).
    • Cung cấp cơ sở khoa học giúp thay đổi tập quán bón phân mất cân đối của nông dân địa phương, chuyển từ canh tác quảng canh sang bón phân cân đối N-P-K có chú trọng kali để tăng tỷ lệ củ loại 1 và tỷ lệ chất khô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được chỉ ra từ văn bản:
    • Thí nghiệm mới chỉ được tiến hành trong phạm vi một vụ sản xuất duy nhất (vụ Đông Xuân 2018 – 2019).
    • Địa điểm thí nghiệm giới hạn tại một điểm duy nhất thuộc xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình trên nền đất cát thịt; chưa kiểm chứng trên các loại đất khác (đất cát ven biển, đất đồi gò, đất bạc màu).
    • Tác giả tự xác nhận nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá năng suất và phẩm chất của bộ phận củ, không khảo sát các chỉ tiêu sinh khối thân lá (nguồn phụ phẩm quan trọng làm thức ăn chăn nuôi).
    • Đánh giá phẩm chất củ (độ bở bùi, độ ngọt) chủ yếu thông qua cảm quan cá nhân và tỷ lệ chất khô tổng số, chưa phân tích hóa sinh chuyên sâu về hàm lượng đường khử, tinh bột hay carotenoid.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục bố trí thí nghiệm ở các mùa vụ khác nhau trong năm (vụ Hè Thu, vụ Đông) để đánh giá độ ổn định của các công thức phân bón.
    • Mở rộng khảo nghiệm trên các loại đất và vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Quảng Nam nhằm xác định chính xác hơn liều lượng kali tối ưu cho từng tiểu vùng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên và học viên chuyên ngành Sư phạm Sinh học, Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, Nông học, Trồng trọt và Khoa học Cây trồng có thể sử dụng đề tài làm tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) trong thí nghiệm phân bón cây hoa màu.
    • Cán bộ khuyến nông và nông dân trồng khoai lang tại tỉnh Quảng Nam cũng như khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ có thể tham khảo mức bón kali cụ thể (140 - 175 kg K2O/ha) để áp dụng vào thực tế sản xuất.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Bảng dữ liệu theo dõi thời gian sinh trưởng, kích thước củ và tỷ lệ chất khô (Bảng 3.1, 3.2, 3.3).
    • Phương pháp tính toán chi phí, doanh thu và hạch toán kinh tế nông hộ (Bảng 3.5).
    • Quy trình kỹ thuật canh tác thực tế: kỹ thuật làm luống cao 30 - 45 cm hướng đông - tây, phương pháp tưới rãnh và thao tác nhấc dây không lật dây để kích thích phình củ.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống khoai lang và nền đất được lựa chọn trong nghiên cứu có đặc điểm gì?

Tác giả sử dụng giống khoai lang Đà Nẵng, đặc điểm vỏ màu trắng, ruột trắng, hàm lượng tinh bột cao, là giống cây đang được sản xuất đại trà tại huyện Thăng Bình. Thí nghiệm được thực hiện trên chân đất cát thịt, có địa hình bằng phẳng và chủ động hoàn toàn về nguồn nước tưới tiêu.

2. Liều lượng phân bón của 4 công thức thí nghiệm được thiết kế cụ thể như thế nào?

Cả 4 công thức đều duy trì mức phân đạm và lân cố định là 70 kg N/ha và 35 kg P2O5/ha cùng với phân chuồng bón lót. Liều lượng kali thay đổi theo từng mức: Công thức 1 (đối chứng) bón 70 kg K2O/ha; Công thức 2 bón 105 kg K2O/ha; Công thức 3 bón 140 kg K2O/ha; Công thức 4 bón 175 kg K2O/ha.

3. Phân kali tác động thế nào đến khối lượng củ và tỷ lệ chất khô của khoai lang?

Liều lượng kali tăng dần làm tăng rõ rệt khối lượng trung bình của một củ và tỷ lệ chất khô:

  • Khối lượng củ tăng từ 127,0 g (CT1) lên 178,7 g (CT2), 187,4 g (CT3) và đạt cao nhất ở CT4 với 198,6 g (chênh lệch 71,6 g so với đối chứng).
  • Tỷ lệ chất khô trong củ tăng tương ứng từ 28% (CT1) lên 29% (CT2), 31% (CT3) và đạt 33% ở CT4.

4. Tại sao tác giả kiến nghị đưa Công thức 3 vào sản xuất đại trà dù Công thức 4 cho năng suất và lợi nhuận cao nhất?

Mặc dù Công thức 4 cho năng suất thực thu cao nhất (69 tạ/ha) và lợi nhuận cao nhất (359,459 triệu đồng/ha), tác giả vẫn khuyến nghị đưa Công thức 3 (140 kg K2O/ha) vào sản xuất tại địa phương. Nguyên nhân là do mức chênh lệch năng suất thực thu giữa CT3 (63 tạ/ha) và CT4 không quá lớn (chênh lệch 6 tạ/ha), trong khi áp dụng CT3 giúp nông dân giảm bớt chi phí phân bón đầu tư ban đầu và giảm thiểu nguy cơ làm thoái hóa đất khi bón liều lượng phân khoáng quá cao.

5. Phương pháp đánh giá chất lượng củ sau thu hoạch được thực hiện như thế nào và kết quả ra sao?

Chất lượng củ được đánh giá qua 2 phương pháp: xác định tỷ lệ % chất khô bằng cách sấy mẫu củ tươi ở 60 - 70°C đến độ ẩm 8 - 12% (kết quả đạt từ 28% đến 33%); và đánh giá cảm quan sau khi luộc chín theo thang điểm 10. Kết quả cảm quan ghi nhận khoai lang đạt 8/10 điểm về độ bở, bùi và 7/10 điểm về độ ngọt (vị ngọt thanh).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Tú Trinh đã xác định được ảnh hưởng tích cực của phân bón kali đến sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng củ và hiệu quả kinh tế của giống khoai lang Đà Nẵng tại xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong vụ Đông Xuân 2018 – 2019. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc bón bổ sung kali theo mức 140 – 175 kg K2O/ha trên nền 70 kg N + 35 kg P2O5/ha giúp tăng gấp đôi năng suất thực thu và nâng tỷ lệ chất khô trong củ lên 31 – 33%. Về mặt ứng dụng thực tiễn, đề tài đề xuất đưa mức bón 140 kg K2O/ha (Công thức 3) vào sản xuất diện rộng tại địa phương nhằm cân đối giữa hiệu quả kinh tế và chi phí đầu tư phân bón cho người nông dân.