Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nấm hoàng đế (Calocybe indica P&C) là loại nấm ăn có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, khoáng chất, vitamin và chứa các hoạt chất sinh học có tính dược liệu (như hợp chất phenolic, tecpen, steroid hỗ trợ hạ đường huyết, cholesterol và huyết áp). Quy trình nuôi trồng loài nấm này phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới và có thể tận dụng nhiều nguồn phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía, lõi ngô, mùn cưa. Tại vùng Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng, nguồn mùn cưa cao su rất dồi dào, giá thành rẻ, thường được kết hợp với vỏ trấu để tăng độ thông thoáng cơ chất cho nấm phát triển.

Tuy nhiên, nguồn dinh dưỡng tự nhiên từ mùn cưa và vỏ trấu đơn thuần chưa đáp ứng tối ưu nhu cầu dinh dưỡng để hệ sợi nấm sinh trưởng nhanh và đạt năng suất thương phẩm cao. Nhằm cải thiện thành phần cơ chất theo hướng nông nghiệp hữu cơ, việc bổ sung các chế phẩm giàu đạm hữu cơ, acid amin và khoáng chất như phân cá vi sinh Alaska là một giải pháp kỹ thuật tiềm năng. Mặc dù đã có nghiên cứu bổ sung phân cá vi sinh trên nấm bào ngư trắng, nhưng ảnh hưởng cụ thể của loại phân này kết hợp với tỷ lệ phối trộn mùn cưa và trấu đối với nấm hoàng đế vẫn chưa được xác định rõ ràng.

Đề tài đặt ra mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mức bổ sung phân cá vi sinh Alaska và tỷ lệ phối trộn giá thể mùn cưa : vỏ trấu phù hợp để nấm hoàng đế (Calocybe indica P&C) sinh trưởng tốt, đạt năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế.
  2. Nhiệm vụ/Yêu cầu nghiên cứu:
    • Bố trí đúng các nghiệm thức và số lượng bịch phôi trên từng ô thí nghiệm theo sơ đồ ngẫu nhiên.
    • Ghi chép số liệu chính xác, đầy đủ về các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của nấm.
    • Theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu thời gian sinh trưởng, kích thước và trọng lượng quả thể nấm hoàng đế.
    • Ghi nhận và đánh giá tỷ lệ nhiễm bệnh mốc hại phôi nấm trong quá trình nuôi ủ sợi.
    • Bước đầu hạch toán hiệu quả kinh tế trên quy mô 1.000 bịch phôi cho từng công thức nghiệm thức.
    • Xử lý, phân tích số liệu bằng các phương pháp thống kê sinh học chuyên ngành nông thái học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống nấm hoàng đế (Calocybe indica P&C) dạng meo hạt; phân cá vi sinh Alaska dạng dịch cô đặc; giá thể mùn cưa cao su phối trộn vỏ trấu; lớp phủ bề mặt bằng đất sạch Tribat.
  • Phạm vi không gian: Trại nấm Thành Dương, tổ 2, ấp Hòa Hiệp, xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm thực hiện từ tháng 02/2023 đến tháng 05/2023 (theo dõi và thu hoạch đợt 1).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và khoa học

Nấm hoàng đế thuộc giới Nấm (Fungi), ngành Nấm đảm (Basidiomycota), lớp Nấm tán (Agaricomycetes), bộ Nấm tán (Agaricales), họ Lyophyllaceae, chi Calocybe. Nấm có quả thể màu trắng sữa, thịt dày chắc, chịu nhiệt tốt với dải nhiệt độ nuôi trồng thích hợp từ 25 - 38°C (tối ưu 28 - 33°C), độ ẩm không khí 80 - 90%, độ ẩm cơ chất 60 - 65% và pH thích hợp từ 7 - 8. Về mặt dinh dưỡng, nấm chứa 20 - 25% protein thô, carbohydrate từ 37 - 48%, lipid thấp (4 - 5%), hàm lượng sắt đạt khoảng 56,25 mg/100 g trọng lượng khô.

Hệ sợi nấm đòi hỏi nguồn dinh dưỡng Carbon (từ cellulose, lignin trong mùn cưa, trấu) và Đạm (Nito) để tổng hợp protein, purin, pyrimidin và chitin cho vách tế bào. Mùn cưa cao su có tỷ lệ C/N khoảng 49/2, trong khi vỏ trấu chứa 35 - 40% cellulose và 25 - 30% lignin giúp tạo độ tơi xốp, tăng dưỡng khí cho cơ chất. Phân cá vi sinh Alaska (NPK 5:1:1, giàu 17 loại acid amin, vitamin và các nguyên tố trung - vi lượng như Ca, Mg, S, Zn, Mn, Cu) đóng vai trò là nguồn bổ sung dinh dưỡng hữu cơ khoáng hóa nhanh, thúc đẩy hệ sợi nấm phân nhánh và hình thành mầm quả thể. Đất sạch Tribat (64% hữu cơ, 8% mùn, N 1,3%, P₂O₅ 0,2%, K₂O 0,4%, pH 5,0 - 6,5) được dùng làm vật liệu phủ bề mặt bịch phôi nhằm duy trì ẩm độ và kích thích phân hóa hệ sợi thành mầm nấm.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (Completely Randomized Design - CRD), 3 lần lặp lại với 12 công thức nghiệm thức (tổng cộng 36 ô cơ sở, mỗi ô 25 bịch phôi, trọng lượng 1,2 kg/bịch; quy mô toàn thí nghiệm là 900 bịch phôi):

  • Yếu tố A (Mức phân cá vi sinh Alaska):
    • A1: 0 mL/kg giá thể (Đối chứng)
    • A2: 0,25 mL/kg giá thể
    • A3: 0,50 mL/kg giá thể
    • A4: 0,75 mL/kg giá thể
  • Yếu tố B (Tỷ lệ thể tích phối trộn mùn cưa : vỏ trấu):
    • B1: 90% mùn cưa : 10% vỏ trấu
    • B2: 85% mùn cưa : 15% vỏ trấu (Đối chứng)
    • B3: 80% mùn cưa : 20% vỏ trấu

Quy trình kỹ thuật thực nghiệm gồm 8 bước: (1) Chuẩn bị và ủ nguyên liệu mùn cưa, vỏ trấu với vôi bột (Ca(OH)₂); (2) Phối trộn cơ chất, hòa phân cá vi sinh Alaska theo nồng độ, điều chỉnh độ ẩm 60 - 65%, đóng túi PP (19 x 34 cm), làm cổ nút bông; (3) Khử trùng bịch phôi bằng nồi hơi đốt than ở 100°C trong 10 - 12 giờ; (4) Cấy meo hạt giống (5 g/bịch); (5) Nuôi ủ tơ ở nhiệt độ 25 - 28°C, ẩm độ 80 - 85%; (6) Mở nút bông, cạo nhẹ lớp bề mặt (0,5 - 1,0 mm) và phủ lớp đất sạch Tribat dày 2,5 cm; (7) Chăm sóc, tưới phun sương giữ ẩm, theo dõi và xử lý bệnh mốc hại; (8) Thu hoạch quả thể đợt 1 khi mép mũ nấm xòe căng hình dù.

Phương pháp theo dõi và thu thập số liệu được thực hiện trên 9 bịch phôi cố định tại mỗi ô cơ sở. Các chỉ tiêu đo đạc gồm: thời gian xuất hiện tơ, thời gian tơ lan kín bịch, tốc độ lan tơ qua 5 chu kỳ (10 - 20, 20 - 30, 30 - 40, 40 - 50, 50 - 60 ngày sau cấy - NSC), thời gian xuất hiện quả thể, thời gian quả thể trưởng thành, chiều cao quả thể, đường kính cuống nấm, đường kính mũ nấm, tỷ lệ bịch phôi nhiễm bệnh, năng suất lý thuyết (NSLT), năng suất thực thu (NSTT) và hạch toán hiệu quả kinh tế trên 1.000 bịch phôi.

Phương pháp xử lý số liệu: Tổng hợp số liệu sơ cấp bằng phần mềm Microsoft Excel 2016; phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh phân hạng trung bình bằng kiểm định LSD ở mức ý nghĩa α = 0,05 và α = 0,01 thông qua phần mềm thống kê R-4.x.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu khoa học liên quan đến nấm hoàng đế và kỹ thuật nuôi trồng:

  • Nguồn gốc và phân loại sinh học: Giới thiệu vị trí phân loại của Calocybe indica P&C (Purkayastha và Chandra công bố năm 1974 tại Ấn Độ), mô tả hình thái quả thể màu trắng sữa, chân gốc phình to, mũ nấm có thể đạt đường kính tới 20 cm.
  • Giá trị dinh dưỡng và dược liệu: Tổng hợp các phân tích hóa sinh so sánh hàm lượng protein, lipid, khoáng chất (Ca, Fe, Zn, Mg, Mn, Se, As) của nấm hoàng đế với các loài nấm bào ngư khác (P. ostreatus, P. sajor-caju, P. florida), nhấn mạnh hàm lượng sắt cao (56,25 mg/100 g chất khô). Trình bày khả năng chống oxy hóa, hỗ trợ điều hòa đường huyết và hạ huyết áp nhờ các enzyme catalase, superoxide dismutase và các hợp chất chuyển hóa thứ cấp.
  • Yếu tố ảnh hưởng và nguyên liệu nuôi trồng: Phân tích nhu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng, tỷ lệ C/N, vai trò của đạm hữu cơ và các ion khoáng (P, K, Mg, Ca, Fe, Zn). Đánh giá đặc tính cơ lý - hóa học của mùn cưa cao su, vỏ trấu, đất sạch Tribat và thành phần dinh dưỡng của phân cá vi sinh Alaska.
  • Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: Điểm luận các công trình nghiên cứu sử dụng cơ chất mạt cưa, bã cà phê, tro trấu và phân cá vi sinh tại Việt Nam (Nguyễn Thị Tám, 2017; Nguyễn Thị Thùy Vân, 2019; Nguyễn Thị Ngọc Nhi, 2020; Tạ Đình Đông, 2021) và các nghiên cứu bổ sung cám lúa mì, cám gạo, rơm lúa, bã mía trên thế giới (Navathe, 2013; Vijaykumar và ctv, 2014; Sri-on, 2018).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp thí nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện thực nghiệm, thông số thiết bị, vật tư và phương pháp luận:

  • Địa điểm và quy mô nhà trồng: Thực hiện tại Trại nấm Thành Dương (Bình Dương), diện tích khu thí nghiệm 48,3 m²; nhà trồng nấm kết cấu 2 mái dốc (vách cao 3 m, mái cao 4 m), che chắn bằng lưới chống nắng 95% và bạt chống mưa; nền rải đá mi dày 5 cm; theo dõi vi khí hậu bằng thiết bị cảm biến nhiệt - ẩm Jumbo Display.
  • Vật tư và hóa chất thí nghiệm: Giống meo hạt nấm hoàng đế của Công ty TNHH Thủy Kim Sinh; đất sạch Tribat (Công ty Sài Gòn Xanh Tribat); phân cá vi sinh Alaska (nhập khẩu từ Mỹ, phân phối bởi Grow More); mùn cưa cao su, vỏ trấu, vôi bột CaO, cồn 70°, túi PP 19 x 34 cm.
  • Bố trí thí nghiệm và quy trình công nghệ: Thiết lập sơ đồ 12 nghiệm thức (từ NT1 đến NT12, ký hiệu A1B1 đến A4B3) theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Mô tả chi tiết 8 bước kỹ thuật từ xử lý nguyên liệu, khử trùng phôi (100°C/10 giờ), cấy giống vô trùng, ủ tơ, phủ đất Tribat, tưới ẩm đến thu hoạch.
  • Hệ thống chỉ tiêu và công thức tính: Định nghĩa tường minh cách đo đạc các mốc thời gian sinh trưởng, tốc độ lan tơ hàng ngày, kích thước hình học quả thể, tỷ lệ nhiễm bệnh hại, công thức tính năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và bài toán hạch toán kinh tế (Tổng chi, Tổng thu, Lợi nhuận, Tỷ suất lợi nhuận).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua 5 nhóm chỉ tiêu chính:

  • Ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và phát triển:
    • Thời gian xuất hiện tơ: Bổ sung phân cá Alaska 0,75 mL rút ngắn thời gian xuất hiện tơ xuống 10,4 ngày (so với 11,3 ngày ở đối chứng A1). Nghiệm thức A4B1 xuất hiện tơ sớm nhất (9,3 ngày), A1B3 muộn nhất (11,9 ngày).
    • Thời gian tơ lan kín bịch: Mức phân cá A4 đạt thời gian lan kín nhanh nhất (trung bình 67,2 ngày), nhanh hơn đối chứng A1 (76,0 ngày). Tỷ lệ phối trộn trấu 10 - 15% cho thời gian lan kín nhanh hơn mức 20% trấu (70,0 - 71,2 ngày so với 74,6 ngày).
    • Thời gian xuất hiện và trưởng thành quả thể: Mức A4 cho thời gian xuất hiện mầm quả thể sớm nhất (87,4 ngày) và quả thể trưởng thành nhanh nhất (100,2 ngày), sớm hơn đối chứng A1 lần lượt là 9,6 ngày và 8,8 ngày. Nghiệm thức A4B2 đạt thời gian hình thành quả thể sớm nhất (84,7 ngày) và trưởng thành ở 98,0 ngày.
  • Ảnh hưởng đến tốc độ lan tơ và kích thước quả thể:
    • Tốc độ lan tơ: Giai đoạn 40 - 50 NSC ghi nhận tốc độ lan sợi mạnh nhất, trong đó nghiệm thức A4B2 đạt đỉnh 0,67 cm/ngày (trung bình mức A4 đạt 0,61 cm/ngày, mức B2 đạt 0,60 cm/ngày). Sang giai đoạn 50 - 60 NSC, tốc độ lan tơ chậm lại do nồng độ oxy trong đáy bịch giảm.
    • Kích thước quả thể: Nghiệm thức A4B2 đạt kích thước vượt trội với chiều cao quả thể 12,5 cm, đường kính cuống nấm 4,0 cm, đường kính mũ nấm 7,6 cm (so với nghiệm thức A1B3 chỉ đạt chiều cao 8,8 cm, đường kính cuống 2,9 cm, đường kính mũ 6,2 cm).
  • Tình hình bệnh hại phôi nấm: Ghi nhận 3 loại nấm mốc chính gây hại trong giai đoạn ủ tơ (10 - 60 NSC) gồm mốc đen (Aspergillus niger), mốc xanh (Trichoderma spp.) và mốc cam (Aspergillus flavus). Tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất ở nghiệm thức A4B3 (12,0%) và A3B3 (8,0%). Các nghiệm thức phối trộn 10% trấu kết hợp mức phân cá thấp (A1B1, A2B1, A3B1) không ghi nhận nhiễm bệnh (0%). Nguyên nhân do vỏ trấu có độ xốp và diện tích bề mặt lớn, nếu tăng tỷ lệ phân cá và thanh trùng không triệt để sẽ tạo điều kiện cho bào tử nấm mốc tạp phát triển.
  • Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu (đợt 1):
    • Tương tác giữa 2 yếu tố có ý nghĩa thống kê đối với NSLT (p < 0,05). Nghiệm thức A4B2 đạt NSLT cao nhất (89,1 kg/1.000 bịch phôi), nghiệm thức A1B3 thấp nhất (65,2 kg/1.000 bịch phôi).
    • Năng suất thực thu đạt đỉnh ở nghiệm thức A4B2 với 102,2 kg/1.000 bịch phôi, cao hơn đáng kể so với nghiệm thức đối chứng hoàn toàn A1B2 (74,8 kg/1.000 bịch phôi) và nghiệm thức A1B3 (55,0 kg/1.000 bịch phôi).
  • Hạch toán hiệu quả kinh tế (trên 1.000 bịch phôi): Với giá bán xuất trại 125.000 đồng/kg nấm tươi tại thời điểm tháng 5/2023, nghiệm thức A4B2 mang lại tổng thu 12,78 triệu đồng, tổng chi 6,87 triệu đồng, lợi nhuận thuần đạt 5,90 triệu đồng và tỷ suất lợi nhuận trên chi phí cao nhất là 0,86 lần. Nghiệm thức A1B3 có lợi nhuận thấp nhất (0,08 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận 0,01 lần).

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và kinh tế giữa 12 nghiệm thức

Nghiệm thức Mức phân cá Alaska (mL/kg) Tỷ lệ mùn cưa : trấu (%) Thời gian tơ kín bịch (ngày) Thời gian quả thể chín (ngày) Chiều cao quả thể (cm) NSLT (kg/1.000 bịch) NSTT đợt 1 (kg/1.000 bịch) Lợi nhuận (triệu VNĐ) Tỷ suất LN/CP (lần)
A1B1 0 90 : 10 71,7 103,0 10,2 66,1 65,5 1,34 0,19
A1B2 (ĐC) 0 85 : 15 76,7 110,2 10,8 73,7 74,8 2,53 0,37
A1B3 0 80 : 20 79,6 114,0 8,8 65,2 55,0 0,08 0,01
A2B1 0,25 90 : 10 72,3 104,2 10,9 76,7 76,4 2,68 0,39
A2B2 0,25 85 : 15 73,8 105,8 11,1 80,9 82,0 3,41 0,50
A2B3 0,25 80 : 20 75,9 110,5 9,3 66,8 65,0 1,31 0,19
A3B1 0,50 90 : 10 69,2 102,1 11,1 84,2 88,3 4,15 0,60
A3B2 0,50 85 : 15 68,7 101,9 11,3 85,0 90,8 4,49 0,66
A3B3 0,50 80 : 20 73,3 109,8 10,5 74,4 65,0 1,30 0,19
A4B1 0,75 90 : 10 66,6 99,4 11,6 86,0 91,5 4,54 0,66
A4B2 0,75 85 : 15 65,5 98,0 12,5 89,1 102,2 5,90 0,86
A4B3 0,75 80 : 20 69,5 103,2 9,8 68,5 74,1 2,42 0,35

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật

  • Khuyến cáo áp dụng: Sử dụng công thức phối trộn giá thể gồm 85% mùn cưa cao su : 15% vỏ trấu bổ sung 0,75 mL phân cá vi sinh Alaska/kg giá thể, kết hợp phủ bề mặt bằng đất sạch Tribat dày 2,5 cm để trồng nấm hoàng đế tại Bình Dương và các khu vực có điều kiện khí hậu tương đồng.
  • Biện pháp vệ sinh an toàn sinh học: Khi tăng tỷ lệ vỏ trấu và đạm phân cá, cần tăng cường hấp khử trùng phôi nấm đúng nhiệt độ (100°C trong 10 - 12 giờ) và giữ vệ sinh nhà ủ tơ bằng cồn 70° để hạn chế nấm mốc đen và mốc xanh.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

  • Xác lập cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về phản ứng sinh trưởng và năng suất của nấm hoàng đế (Calocybe indica P&C) đối với phân cá vi sinh Alaska.
  • Xác định được tỷ lệ phối trộn tối ưu giữa mùn cưa cao su và vỏ trấu (85:15), giải quyết được bài toán cân bằng giữa độ thông thoáng cơ chất và hàm lượng dinh dưỡng hữu cơ, giúp người sản xuất rút ngắn chu kỳ nuôi trồng và nâng cao hiệu quả tài chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn số đợt thu hoạch: Do giới hạn thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp (02/2023 - 05/2023), tác giả mới chỉ theo dõi, thu thập số liệu và hạch toán kinh tế trên đợt thu hoạch thứ nhất (đợt 1), chưa phản ánh toàn bộ tổng năng suất của cả chu kỳ sinh trưởng (thường kéo dài 2 - 3 đợt thu hái).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu mới thực hiện tại một trại nấm cụ thể tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trên một nguồn giống nấm dạng meo hạt thương phẩm.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng thời gian theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng qua các đợt thu hoạch 2 và 3 để tính toán tổng hiệu suất sinh học (Biological Efficiency) và đánh giá sự suy giảm dinh dưỡng cơ chất sau từng đợt thu hái.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các mức nồng độ phân cá vi sinh cao hơn (trên 0,75 mL/kg) hoặc kết hợp đa dạng các chế phẩm sinh học hữu cơ khác trên nhiều chủng giống nấm hoàng đế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Nông học, Công nghệ Sinh học Nông nghiệp, Bảo vệ Thực vật và Khoa học Cây trồng; các kỹ sư nông nghiệp, cán bộ khuyến nông cùng các chủ trang trại, hợp tác xã sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu.
  • Phần nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Quy trình 8 bước chuẩn bị, xử lý cơ chất mùn cưa - trấu, hấp khử trùng, cấy giống meo hạt, kỹ thuật phủ đất sạch Tribat và chăm sóc quả thể.
    • Phương pháp luận bố trí thí nghiệm nông học 2 yếu tố (CRD) và kỹ thuật phân tích phương sai, trắc nghiệm LSD trên phần mềm thống kê R.
    • Các dẫn liệu chi tiết về biểu hiện kích thước, thời gian lan sợi và các rủi ro nhiễm bệnh mốc trong quá trình nuôi trồng nấm thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiệm thức nào mang lại kết quả tối ưu nhất về sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế trong khóa luận?

Nghiệm thức A4B2 (bổ sung 0,75 mL phân cá vi sinh Alaska/kg giá thể trên tỷ lệ phối trộn 85% mùn cưa cao su : 15% vỏ trấu) cho kết quả vượt trội toàn diện: thời gian tơ lan kín bịch nhanh nhất (65,5 ngày), hình thành quả thể sớm nhất (84,7 ngày), quả thể trưởng thành nhanh nhất (98,0 ngày); chiều cao quả thể đạt 12,5 cm, đường kính cuống nấm 4,0 cm, đường kính mũ nấm 7,6 cm; năng suất lý thuyết đạt 89,1 kg/1.000 bịch, năng suất thực thu đợt 1 đạt 102,2 kg/1.000 bịch; lợi nhuận đạt 5,90 triệu đồng/1.000 bịch phôi với tỷ suất lợi nhuận trên chi phí cao nhất là 0,86 lần.

2. Việc tăng tỷ lệ vỏ trấu lên 20% trong cơ chất ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của nấm?

Khi tăng tỷ lệ vỏ trấu lên 20% (nghiệm thức B3: 80% mùn cưa : 20% trấu), các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất đều suy giảm rõ rệt so với mức 10% và 15% trấu. Cụ thể, thời gian tơ lan kín bịch bị kéo dài (trung bình 74,6 ngày), thời gian quả thể chín muộn hơn (109,4 ngày), chiều cao quả thể thấp nhất (trung bình 9,5 cm) và năng suất thực thu thấp nhất (trung bình 67,0 kg/1.000 bịch phôi). Đồng thời, tỷ lệ bịch phôi nhiễm bệnh mốc ở mức 20% trấu tăng cao rõ rệt (đạt 8,0 - 12,0%).

3. Những loại nấm mốc gây hại nào xuất hiện phổ biến nhất và xuất hiện ở giai đoạn nào?

Trong quá trình nuôi sợi (giai đoạn từ 10 đến 60 ngày sau cấy meo), thí nghiệm ghi nhận 3 loại nấm mốc gây hại chính là nấm mốc đen (Aspergillus niger), nấm mốc xanh (Trichoderma spp.) và nấm mốc cam (Aspergillus flavus). Tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất tập trung ở các nghiệm thức có mức trấu 20% kết hợp mức phân cá cao (A3B3 nhiễm 8,0%, A4B3 nhiễm 12,0%).

4. Quy trình phủ bề mặt kích thích tạo quả thể được thực hiện bằng vật liệu gì và kỹ thuật ra sao?

Sau khi tơ nấm đã lan kín hoàn toàn bịch phôi (khoảng 60 - 70 ngày sau cấy), tiến hành tháo nút bông và cổ nhựa, dùng muỗng cạo bỏ lớp giống meo hạt cũ cùng một lớp mỏng bề mặt (dày khoảng 0,5 - 1,0 mm) nhằm kích thích phân hóa mầm nấm. Sau đó, trải một lớp đất sạch Tribat dày khoảng 2,5 cm lên trên bề mặt bịch phôi và tiến hành tưới phun sương duy trì độ ẩm không khí từ 80 - 85%.

5. Chi phí và lợi nhuận được hạch toán cụ thể như thế nào trên quy mô 1.000 bịch phôi?

Tại thời điểm tháng 5/2023 với giá bán nấm hoàng đế tươi là 125.000 đồng/kg, tổng chi phí đầu tư cho 1.000 bịch phôi dao động từ 6,79 đến 6,90 triệu đồng (bao gồm giống, mùn cưa, trấu, vôi bột, phân cá Alaska, đất Tribat, điện nước, công lao động và khấu hao). Nghiệm thức A4B2 đạt tổng thu cao nhất 12,78 triệu đồng, mang lại lợi nhuận 5,90 triệu đồng (tỷ suất 0,86 lần), trong khi nghiệm thức không bổ sung phân cá trên nền 20% trấu (A1B3) chỉ đạt tổng thu 6,88 triệu đồng, lợi nhuận vỏn vẹn 0,08 triệu đồng (tỷ suất 0,01 lần).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ngô Thanh Kỳ đã xác định được công thức cơ chất tối ưu cho nấm hoàng đế (Calocybe indica P&C) tại Bình Dương là giá thể phối trộn 85% mùn cưa cao su : 15% vỏ trấu kết hợp bổ sung 0,75 mL phân cá vi sinh Alaska/kg giá thể và phủ đất sạch Tribat dày 2,5 cm. Nghiệm thức này giúp rút ngắn chu kỳ nuôi cấy, tối ưu hóa kích thước quả thể, đạt năng suất thực thu đợt 1 cao nhất (102,2 kg/1.000 bịch phôi) và mang lại tỷ suất lợi nhuận 0,86 lần. Công trình cung cấp quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh và luận cứ khoa học thực nghiệm có giá trị ứng dụng cao cho nghề trồng nấm ăn, nấm dược liệu tại khu vực Đông Nam Bộ.