Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại rau ăn quả thương mại thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), có giá trị dinh dưỡng với hàm lượng nước cao, giàu vitamin A, C, B1, B2 và khoáng chất. Trên thị trường, dưa chuột phục vụ đa dạng nhu cầu từ ăn tươi đến chế biến công nghiệp như đóng hộp, muối mặn xuất khẩu. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa cho phép sản xuất dưa chuột với năng suất bình quân đạt 181,1 tạ/ha (năm 2009), cao hơn mức trung bình thế giới thời điểm đó (173,2 tạ/ha). Nhu cầu chế biến và kim ngạch xuất khẩu dưa chuột sang các thị trường Liên bang Nga, Nhật Bản, Rumani tăng nhanh đặt ra yêu cầu nâng cao năng suất và chất lượng quả thương phẩm.

Giống dưa chuột lai F1 Fadia có nguồn gốc từ Enza Zaden (Hà Lan), nhập khẩu bởi Công ty TNHH Thương mại Hạt giống và Nông sản Phù Sa, là giống tự thụ phấn, tiềm năng đậu 7–8 quả/chùm, thời gian bắt đầu cho thu hoạch sớm (39–43 ngày sau trồng) và có khả năng canh tác tốt trong nhà kính, nhà lưới có mái che. Tuy nhiên, việc phát huy tiềm năng năng suất của giống phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân. Tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa, trước thời điểm nghiên cứu chưa có công trình nào đánh giá cụ thể ảnh hưởng của các phương thức tưới phân bón lá A2 đối với giống F1 Fadia canh tác trong điều kiện nhà có mái che. Đề tài của tác giả Hà Văn Hòa tại Trường Đại học Hồng Đức được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của các phương pháp cung cấp phân bón lá A2 đến sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất của giống dưa chuột F1 Fadia tại xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Để đạt mục tiêu trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp bón phân đến sinh trưởng, phát triển của giống dưa chuột F1 Fadia.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp bón phân đến mức độ nhiễm một số sâu, bệnh hại chính trên giống dưa chuột F1 Fadia.
  3. Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp bón phân đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống dưa chuột F1 Fadia.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại vùng đất cát pha trong mô hình nhà lưới có mái che tại xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi thời gian thực hiện trong vụ Xuân Hè năm 2020 (từ tháng 3/2020 đến tháng 6/2020). Đối tượng nghiên cứu trực tiếp gồm giống dưa chuột F1 Fadia, chế phẩm phân bón lá A2 và 3 phương thức tưới/bón phân (tưới nhỏ giọt, tưới tràn trực tiếp vào gốc, phun qua lá).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên đặc điểm nông sinh học của cây dưa chuột và sinh lý hấp thu dinh dưỡng khoáng qua lá và rễ. Dưa chuột có bộ rễ cọc và rễ phụ phân bố tương đối nông, mẫn cảm với úng ngập và khô hạn, ưa ẩm độ đất 85–95% và ẩm độ không khí 90–95%, nhiệt độ sinh trưởng tối ưu từ 18–24°C, ánh sáng ngày ngắn với độ dài chiếu sáng 10–12 giờ/ngày. Về dinh dưỡng khoáng, bên cạnh đường hút dinh dưỡng truyền thống qua rễ, cơ chế hấp thu qua hệ thống khí khổng trên bề mặt lá mang lại hiệu suất sử dụng dưỡng chất đạt tới 90–95%, cao hơn mức 45–50% khi bón qua đất do không bị cố định bởi keo đất hay rửa trôi. Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật được tác giả áp dụng gồm Nghị định số 113/2003/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-87:2012/BNNPTNT về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống dưa chuột; và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-169:2014/BNNPTNT về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật gây hại cây rau.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm đồng ruộng, bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) trong nhà lưới có mái che với 3 công thức, mỗi công thức lặp lại 3 lần:

  • Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Bón phân bón lá A2 qua hệ thống tưới nhỏ giọt.
  • Công thức 2 (CT2): Tưới phân bón lá A2 trực tiếp vào gốc (tưới tràn).
  • Công thức 3 (CT3): Phun phân bón lá A2 trực tiếp qua lá.

Khu thí nghiệm có diện tích ô 10 m² (10 m x 1 m), mật độ trồng 20.000 cây/ha với khoảng cách 30 cm x 45 cm. Hạt giống F1 Fadia được ngâm nước ấm 4 giờ, ủ ẩm ở 30°C trong 1 ngày, gieo vào khay 72 lỗ chứa giá thể Peatman. Khi cây con đạt 1 lá thật (ngày 23/03/2020) thì chuyển ra luống trồng. Nền phân bón cơ bản gồm 8 tấn phân chuồng/ha kết hợp 400 kg vôi bột/ha sau cày bừa; bổ sung phun canxi (25 g/18 lít, chu kỳ 10 ngày/lần) và siêu kali ở giai đoạn ra hoa đậu quả (25 g/18 lít, chu kỳ 5 ngày/lần). Chế phẩm phân bón lá A2 được hòa tan theo tỷ lệ 10 g trong 16 lít nước, bắt đầu bón sau trồng 5 ngày, định kỳ 4 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 7 ngày theo từng phương thức của công thức thí nghiệm.

Chỉ tiêu theo dõi bao gồm: thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (mọc mầm, xuất hiện lá thật, ra tua cuốn, nở hoa, đậu quả, thu hoạch quả); động thái tăng trưởng chiều cao thân chính, số lá, đường kính gốc (đo định kỳ 7 ngày/lần trên 10 cây ngẫu nhiên/công thức/lần nhắc lại); tỷ lệ hại của sâu bệnh chính (sâu đục thân quả, sâu xanh ăn lá, sâu xám, bệnh sương mai, lở cổ rễ, virus); các yếu tố cấu thành năng suất (chiều dài quả, đường kính quả, số quả/cây, khối lượng trung bình quả, năng suất cá thể, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu) và hạch toán hiệu quả kinh tế. Số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel và chương trình IRRISTAT, so sánh sai khác giá trị trung bình qua phân tích phương sai (ANOVA) ở mức ý nghĩa LSD 0,05.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả phân tích tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu thị trường tiêu thụ dưa chuột trong nước và xuất khẩu, vai trò của thâm canh dưa chuột giống mới trong nhà màng, nhà lưới nhằm hạn chế tác động thời tiết tiêu cực. Khóa luận nêu rõ việc áp dụng chế phẩm phân bón lá kết hợp phương thức tưới thích hợp là giải pháp kỹ thuật cần thiết để tối ưu hóa năng suất giống dưa lai F1 Fadia tại Thanh Hóa; đồng thời xác định cụ thể mục đích, 3 yêu cầu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn phục vụ chuyển giao kỹ thuật.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành 2 nhóm nội dung lớn:

  • Tổng quan về cây dưa chuột: Nguồn gốc lịch sử loài Cucumis sativus, phân bố địa lý; số liệu sản xuất dưa chuột toàn cầu giai đoạn 1991–2008 của FAO (sản lượng tăng từ 17,7 triệu tấn lên 44,3 triệu tấn) và tại Việt Nam giai đoạn 2005–2009; đặc điểm thực vật học các bộ phận rễ, thân, lá, tua cuốn, hoa, quả, hạt; các yêu cầu sinh thái khắt khe về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm và dinh dưỡng đất. Tác giả giới thiệu chi tiết nguồn gốc và đặc tính nông học của giống dưa chuột F1 Fadia.
  • Tổng quan về phân bón lá: Lịch sử phát triển và tiêu thụ phân bón lá trên thế giới và tại Việt Nam; cơ sở khoa học của việc hấp thu chất dinh dưỡng qua khí khổng mặt lá so với cơ chế hút qua hệ thống rễ; vai trò của các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng dạng chelate trong kích thích trao đổi chất và tăng cường khả năng chống chịu của cây trồng.

Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu (hạt giống dưa chuột F1 Fadia của Enza Zaden, phân bón lá A2, giá thể ươm Peatman, nền đất cát pha). Nội dung chương chuẩn hóa quy trình thí nghiệm so sánh 3 phương thức bón phân A2 theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn có 3 lần nhắc lại. Quy trình canh tác được mô tả cụ thể từ khâu làm đất, bón lót, ủ hạt, gieo ươm, mật độ trồng (20.000 cây/ha), kỹ thuật làm giàn, quấn ngọn, tỉa chồi nách dưới lá thứ 4, điều tiết nước tưới theo từng thời kỳ sinh trưởng và biện pháp thu hoạch. Tác giả nêu rõ công thức tính toán các chỉ tiêu hình thái, tỷ lệ bệnh hại theo QCVN 01-87:2012/BNNPTNT, QCVN 01-169:2014/BNNPTNT và phương pháp phân tích phương sai trên IRRISTAT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương thực nghiệm cung cấp toàn bộ kết quả phân tích số liệu thu thập qua các đợt theo dõi:

  • Thời gian sinh trưởng: Các công thức đều mọc mầm sau 1 ngày ngâm ủ và ra lá thật thứ nhất sau 7 ngày gieo. Khi áp dụng bón phân A2, CT3 (phun qua lá) kích thích ra lá thật thứ 2 (ngày thứ 10), lá thật thứ 3 (ngày thứ 13), xuất hiện hoa cái (ngày thứ 23), bắt đầu thu hoạch quả đợt đầu ở ngày thứ 41 và kết thúc thu hoạch ở ngày thứ 123; tổng thời gian sinh trưởng của CT3 kéo dài nhất đạt 134 ngày (so với 130 ngày ở CT1 và 131 ngày ở CT2).
  • Động thái sinh trưởng thân, lá, gốc: Chiều cao thân chính ở ngày thứ 14 của CT3 đạt 17,8 cm, vượt trội so với CT1 (12,7 cm); tại kỳ thu hoạch cuối cùng, CT3 đạt 238,2 cm, CT2 đạt 234,4 cm, CT1 đạt 225,7 cm (LSD0,05 = 4,7 cm). Động thái ra lá ở kỳ theo dõi ngày 49 cho thấy CT3 đạt 29,7 lá/cây, CT2 đạt 28,8 lá/cây, CT1 đạt 27,2 lá/cây (LSD0,05 = 4,3 lá). Đường kính gốc tại thời điểm thu hoạch lần cuối của CT3 đạt 14,85 mm, lớn hơn CT2 (12,82 mm) và CT1 (12,16 mm).
  • Tình hình sâu bệnh hại: Do canh tác trong nhà lưới có mái che, tỷ lệ phát sinh dịch hại ở mức rất thấp, không phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Tỷ lệ hại của sâu đục thân quả từ 1,2–1,3%; sâu xanh ăn lá từ 1,0–1,1%; sâu xám 1,1%. Về bệnh hại, bệnh sương mai xuất hiện ở mức 0,9% (CT3) đến 1,1% (CT1, CT2); bệnh lở cổ rễ ở CT3 thấp nhất đạt 1,0%, trong khi CT1 tưới nhỏ giọt đạt 1,7%; bệnh virus dao động từ 1,1–1,3%.
  • Năng suất và cấu thành năng suất: CT3 đạt số quả trên cây cao nhất (60,13 quả/cây), chiều dài quả lớn nhất (15,42 cm), đường kính quả lớn nhất (4,13 cm) và khối lượng trung bình quả đạt 94,05 g/quả. Năng suất cá thể của CT3 đạt 5,65 kg/cây, năng suất lý thuyết đạt 113,00 tấn/ha và năng suất thực thu đạt 90,40 tấn/ha, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với CT2 (86,72 tấn/ha) và CT1 (76,64 tấn/ha).
  • Hiệu quả kinh tế: Với giá bán sản phẩm bình quân tính toán trong hạch toán, CT3 mang lại tổng thu 180.800.000 đồng/ha, tổng chi phí sản xuất là 21.550.000 đồng/ha, đạt lãi thuần cao nhất 159.250.000 đồng/ha (vượt CT2 đạt lãi thuần 152.090.000 đồng/ha và CT1 đạt 132.230.000 đồng/ha).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tác giả đúc kết 3 kết luận chính về tác động ưu việt của phương pháp phun phân bón lá A2 đối với sinh trưởng, mức độ hạn chế sâu bệnh, các chỉ tiêu năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế; đồng thời đưa ra 2 kiến nghị cụ thể về hướng nghiên cứu lặp lại và mở rộng vùng sinh thái thử nghiệm.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng của giống dưa chuột F1 Fadia đối với 3 phương thức tưới phân bón lá A2 trong vụ Xuân Hè 2020 tại Thường Xuân, Thanh Hóa.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng, cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế giữa các công thức:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính CT1 (Tưới nhỏ giọt) CT2 (Tưới gốc) CT3 (Phun qua lá) Sai khác (LSD0,05)
Chiều cao thân chính thu hoạch cuối cm 225,7 234,4 238,2 4,7
Số lá trên thân chính (ngày 49) lá/cây 27,2 28,8 29,7 4,3
Đường kính gốc thu hoạch cuối mm 12,16 12,82 14,85 4,6
Tổng thời gian sinh trưởng ngày 130 131 134 -
Tỷ lệ bệnh sương mai % 1,1 1,1 0,9 -
Tỷ lệ bệnh lở cổ rễ % 1,7 1,2 1,0 -
Tỷ lệ bệnh virus % 1,3 1,2 1,1 -
Chiều dài quả cm 12,91 14,22 15,42 2,9
Đường kính quả cm 3,82 3,97 4,13 3,6
Số quả trên cây quả/cây 53,15 58,12 60,13 3,1
Khối lượng trung bình quả g/quả 90,21 93,35 94,05 4,5
Năng suất cá thể kg/cây 4,79 5,42 5,65 3,8
Năng suất lý thuyết tấn/ha 95,80 108,40 113,00 -
Năng suất thực thu tấn/ha 76,64 86,72 90,40 2,2
Tổng chi phí đồng/ha 21.050.000 21.350.000 21.550.000 -
Tổng thu đồng/ha 153.280.000 173.440.000 180.800.000 -
Lãi thuần đồng/ha 132.230.000 152.090.000 159.250.000 -

Về mặt giải pháp kỹ thuật, tác giả đề xuất áp dụng phương thức phun phân bón lá A2 trực tiếp qua tán lá cho giống dưa chuột F1 Fadia trồng trong nhà lưới có mái che. Liều lượng cụ thể là hòa tan 10 g phân bón lá A2 trong 16 lít nước, phun đều trên thân và lá 4 lần liên tiếp, bắt đầu từ ngày thứ 5 sau trồng, mỗi lần cách nhau 7 ngày.

Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện ở việc chứng minh bằng số liệu thực nghiệm rằng phương thức phun phân A2 qua lá mang lại hiệu quả vượt trội hơn so với phương thức bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc tưới tràn vào gốc. Phun qua lá giúp kéo dài thời gian duy trì bộ lá xanh (tổng thời gian sinh trưởng đạt 134 ngày), tăng số lá và đường kính gốc, giúp cây hạn chế tỷ lệ bệnh lở cổ rễ (giảm từ 1,7% xuống 1,0%) và tăng năng suất thực thu thêm 13,76 tấn/ha so với phương pháp tưới nhỏ giọt thông thường, nâng mức lãi thuần lên 159.250.000 đồng/ha. Kết quả này bổ sung cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh giống dưa chuột nhập nội tại Thanh Hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn thực tế do tác giả tự xác định và phản ánh từ phạm vi bố trí thí nghiệm:

  • Hạn chế về thời gian và mùa vụ: Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ duy nhất là vụ Xuân Hè năm 2020, chưa kiểm chứng được tính ổn định của các phương pháp tưới phân A2 qua vụ Thu Đông hoặc Đông Xuân trong các điều kiện nền nhiệt và ánh sáng khác biệt.
  • Hạn chế về địa bàn: Địa điểm nghiên cứu chỉ tập trung tại một nhà lưới có mái che trên chân đất cát pha tại xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, chưa có sự đối chứng ở các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau trong tỉnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề nghị gồm:

  1. Tiếp tục triển khai thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp tưới phân bón lá A2 trên giống dưa chuột F1 Fadia trong các vụ tiếp theo nhằm thu thập dữ liệu đa vụ và khẳng định tính chính xác, ổn định của kết quả.
  2. Tiếp tục thử nghiệm mô hình ở một số vùng sinh thái có điều kiện tương tự trước khi đưa ra khuyến cáo mở rộng sản xuất đại trà cho người dân.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận tốt nghiệp này cung cấp nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học cây trồng, Bảo vệ thực vật và Kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao. Tài liệu hỗ trợ trực tiếp cho các nghiên cứu sinh, kỹ sư nông nghiệp đang thực hiện các đề tài về thâm canh cây rau ăn quả họ Bầu bí trong môi trường nhà màng, nhà lưới.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Quy trình chuẩn bị giá thể Peatman và kỹ thuật ươm cây con dưa chuột F1 Fadia.
  • Kỹ thuật tỉa cành nhánh từ nách lá thứ 4 trở xuống nhằm tập trung dinh dưỡng phát triển bộ rễ và tạo độ thông thoáng gốc.
  • Phương pháp luận và cách thức theo dõi các chỉ tiêu nông học theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-87:2012/BNNPTNT và điều tra sinh vật hại theo QCVN 01-169:2014/BNNPTNT.
  • Bảng mẫu tính toán năng suất cá thể, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và quy trình hạch toán chi phí - doanh thu sản xuất nông nghiệp trong nhà lưới.

Câu hỏi thường gặp

Giống dưa chuột F1 Fadia sử dụng trong nghiên cứu có nguồn gốc từ đâu và có đặc tính nông sinh học gì nổi bật?
Giống dưa chuột F1 Fadia có nguồn gốc từ Enza Zaden (Hà Lan), do Công ty TNHH Thương mại Hạt giống và Nông sản Phù Sa nhập khẩu. Giống có đặc tính tự thụ phấn, khả năng đậu 7–8 quả/chùm, thời gian cho thu hoạch sớm (39–43 ngày sau trồng), năng suất tiềm năng đạt 12–14 kg/m², khối lượng quả trung bình 90–100 g, chiều dài quả 10–12 cm, thích hợp trồng ngoài trời hoặc trong nhà kính, nhà lưới và có khả năng kháng bệnh cao.

Quy trình và nồng độ sử dụng phân bón lá A2 trong thí nghiệm được tác giả thực hiện như thế nào?
Tác giả hòa tan 10 g phân bón lá A2 vào 16 lít nước, khuấy đều và xử lý theo từng công thức thí nghiệm (phun đều qua thân lá, bón qua hệ thống nhỏ giọt hoặc tưới trực tiếp vào gốc). Quy trình xử lý gồm 4 lần liên tiếp, bắt đầu từ ngày thứ 5 sau trồng, mỗi lần bón cách nhau 7 ngày.

Phương pháp bón phân nào mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất trong 3 công thức thí nghiệm?
Công thức 3 (phun phân bón lá A2 qua lá) mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Cụ thể, CT3 đạt năng suất thực thu 90,40 tấn/ha (vượt trội so với CT2 đạt 86,72 tấn/ha và CT1 đạt 76,64 tấn/ha). Về hiệu quả kinh tế, CT3 đạt lãi thuần 159.250.000 đồng/ha, cao hơn CT2 (152.090.000 đồng/ha) và CT1 (132.230.000 đồng/ha).

Mức độ phát sinh sâu bệnh hại trên dưa chuột F1 Fadia trong nhà lưới có mái che tại thí nghiệm diễn ra như thế nào?
Mức độ hại của các đối tượng dịch hại đều ở mức thấp do cây được bảo vệ trong nhà lưới có mái che. Tỷ lệ sâu đục thân quả từ 1,2–1,3%, sâu xanh ăn lá từ 1,0–1,1%, sâu xám 1,1%. Tỷ lệ bệnh sương mai từ 0,9–1,1%, bệnh lở cổ rễ từ 1,0–1,7% và bệnh virus từ 1,1–1,3%. Với tỷ lệ gây hại thấp này, thí nghiệm không phải sử dụng bất kỳ loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học nào.

Số liệu thực nghiệm trong khóa luận được xử lý bằng công cụ thống kê nào?
Tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel và chương trình thống kê sinh học nông nghiệp IRRISTAT để xử lý số liệu, phân tích phương sai (ANOVA) theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn và kiểm định sai khác trung bình bằng giá trị sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 5% (LSD0,05).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Văn Hòa đã thực hiện đánh giá thực nghiệm hoàn chỉnh về ảnh hưởng của 3 phương pháp bón phân bón lá A2 đối với giống dưa chuột F1 Fadia canh tác trong nhà lưới có mái che tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả chứng minh phương pháp phun phân bón lá A2 qua lá (CT3) kích thích sinh trưởng chiều cao thân, tăng số lượng lá, nâng cao khả năng chống chịu bệnh lở cổ rễ và gia tăng các yếu tố cấu thành năng suất so với phương pháp tưới gốc và tưới nhỏ giọt. Với năng suất thực thu đạt 90,40 tấn/ha và lãi thuần 159.250.000 đồng/ha, nghiên cứu cung cấp cơ sở kỹ thuật thuyết phục cho việc hoàn thiện quy trình canh tác dưa chuột chất lượng cao tại địa phương.