MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), thuộc nhóm Agriculture. Dong riềng mọc ở nhiều nơi trên thế giới như Nam Mỹ, ÚC, Thái Lan, Ấn Độ… và được trồng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX. Củ dong riềng trồng ở Việt Nam có nơi gọi chuối củ hay khoai đao, là cây có giá trị kinh tế cao và có nhiều công dụng như luộc ăn, chế biến tinh bột, làm miến dong, lấy sợi, pha chế huyết thanh, làm thức ăn gia súc…Theo đánh giá của người dân, dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, dong riềng đã trở thành cây lương thực góp phần xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa bàn trong nước ta như Bắc Kạn, Điện Biên, Quảng Ninh, Kon Tum, Đồng Nai… Cây dong riềng là loại cây có thể trồng trên nhiều loại đất mà không lo bị mất mùa, hiện nay ở một số địa phương trồng một ha dong riềng có thể cho trung bình 50 - 60 tấn củ tươi, giá trị kinh tế có thể cao gấp nhiều lần trồng lúa.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, mặc dù diện tích trồng dong riềng có tăng nhưng năng suất còn thấp và không ổn định. Nguyên nhân do: Người dân còn sử dụng giống cũ, chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là người dân sử dụng phân bón không cân đối, bón nhiều đạm mà không bón phân hữu cơ, kali… Phân bón có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, tạo điều kiện cho cây trồng phát triển, tăng năng suất và chất lượng nông sản. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với đời sống cây trồng, tìm ra mức phân bón hợp lý cũng như xác định liều lượng, tỉ lệ giữa các nguyên tố dinh dưỡng phù hợp 2 với từng loại đất, từng vùng tiểu khí hậu cụ thể sẽ nâng cao được hiệu lực của phân bón với cây trồng. Xuất phát từ nhận định đó, với sự giúp tận tình của thầy cô hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng một số tổ hợp NPK đến sự sinh trưởng và phát triển của giống dong riềng DR3 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.Mục tiêu của đề tài Xác định tổ hợp NPK thích hợp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng.
Mục đích của đề tài - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng sinh trưởng của giống dong riềng DR3. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ giống dong riềng DR3. - Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp NPK đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống dong riềng DR3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Ý nghĩa khoa học - Củng cố kiến thức và kỹ năng nghề, đặc biệt là trong nghiên cứu, bổ sung, tích lũy những kinh nghiệm và kiến thức thực tế cho sinh viên. - Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu và chuyển giao cho sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được liều lượng phân bón thích hợp nhất đối với dong riềng. Từ đó cho năng suất cao, chất lượng tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trên cơ sở đó sẽ khuyến cáo ra sản xuất, áp dụng trong thực tiễn sản xuất của người dân. 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2. Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ.
Được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩm là chính (Mai Thạch Hoành và CS, 2011) [2]. Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darling ton và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới, - C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico, - C. Flaccida ở Nam Mỹ, - C.
edulis ở châu Mỹ nhiệt đới, - C. indica ở châu Mỹ nhiệt đới, - C. humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới.
Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng ở các nước châu Á, châu Phi, châu Úc. Tại các vùng Nam Mỹ, Châu Phi và một số nước nam Thái Bình Dương thì dong riềng được trồng ở quy mô thương mại. Tại Châu Á, dong riềng được trồng ở Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và CS, 2007) [15]. Phân loại cây dong riềng.
- Tên khoa học: Canna Edulis Ker - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea. 4 - Bộ Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n=2x =18 và tam bội 2n=2x=27. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng Thân: Thân của cây dong riêng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2 m đến 1,5 m có những giống có thể cao trên 2,5 m.
Thân cây thường có màu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là đốt. Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất. Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần. Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành nhánh cấp 1 hay đến cấp 3.
Vỏ của thân có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, vào trong tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột. So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn.
5 Năng suất cây dong riềng rất cao, nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm dong riềng có thể thu được 15 – 20 kg củ. Trồng thâm canh trên diện tích lớn dong riềng cho năng suất 50 - 60 tấn/ha. Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím, mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng 22– 25 cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng màu tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 - 15 cm.
Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ. Rễ của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tuỳ thuộc vào giống ). Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất khoảng 20 – 30 cm. Hoa: Hoa của dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, hoa mọc ở ngọn cây.
Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được bao bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6 - 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có một hoa. Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn theo chiều dài.
Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản hình cánh hoa, một nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2 nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang một bao phấn, nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ. Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 - 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi.
Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 - 5 6 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài. Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày. Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng quả nang, hình trứng ngược, kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều gai mềm. Hạt: Hạt của dong riềng có màu đen, hình tròn, đường kính 3,5 – 5 mm.
Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 – 13 g. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng Yêu cầu nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25 – 300C. Điều kiện ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khoẻ hơn, tốc độ đồng hoá cao và đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ và dong riềng chịu lạnh khá nên dong riềng có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500 m so với mặt nước biển. Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng.
Ngày dài có ảnh hưởng đến việc hình thành củ. Điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài thúc đẩy sự phát triển thân lá. Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất trồng không khắt khe so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều lại đất khác nhau. Tuy nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất cao.