Chương 1 TỔNG QUAN 1. Môi trường lao động với sức khoẻ người lao động: Trong cuộc sống con người và môi trường có mối liên quan khăng khít với nhau và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Nhưng môi trường nào càng có nhiêu yếu tố bất lợi, nhất là môi trường lao động thì con người dễ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ. Sức khoẻ công nhân và môi trường lao động là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau.
Môi trường lao động ô nhiễm sẽ làm suy giảm sức khoẻ công nhân lao động, thậm chí gây nên những bệnh không chữa khỏi như: Bệnh bụi phổi Silic nghề nghiệp, bệnh điếc nghề nghiệp, rung chuyển nghề nghiệp, ung thư phổi… Ngay cả sau khi chúng ta khám phát hiện bệnh cho đi điều dưỡng phục hồi và chuyển vị trí làm việc người lao động khỏi môi trường bị ô nhiễm nhưng bệnh vẫn tiếp tục tiến triển. Người lao động làm ở các ngành nghề khác nhau thường chịu tác động bởi các yếu tố môi trường lao động khác nhau như: - Các yếu tố vật lý: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, ánh sáng, bức xạ nhiệt, bụi, ồn, rung chuyển, điện từ trường… - Các yếu tố hoá học như: Khí NO2, SO2, CO2, CO, H2S,… - Các yếu tố sinh vật: Vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm mốc, … - Các yếu tố kinh tế, xã hội. Công nhân ngành than nhất là khu vực khai thác than nội địa, người lao động làm việc ngoài trời, làm việc chủ yếu là lao động thủ công. Một số yếu tố môi trường lao động không thuận lợi như bụi, tiếng ồn, hơi khí độc… phát sinh trong quá trình sản xuất khai thác và chế biến than cũng ảnh hưởng đến năng xuất lao động và sức khoẻ công nhân.
Đặc biệt nước ta nằm trong khu 4 vực khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, làm tăng các phản xạ nhiệt ẩm gây cản trở quá trình điều hoà thân nhiệt, ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động. Mỗi ngành nghề có đặc trương riêng, yếu tố môi trường tác động lên sức khoẻ công nhân lao động ở các ngành nghề khác nhau, do đó mô hình bệnh tật cũng có sự khác nhau. Các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước đều cho rằng: Môi trường lao động có nhiều bụi, đặc biệt bụi có hàm lượng Silic cao thì mô hình bệnh tật chủ yếu trong công nhân là bệnh phổi, phế quản. Bệnh nghề nghiệp có tỷ lệ cao nhất là bệnh bụi phổi Silic (bụi phổi silic).
Đây là một bệnh nguy hiểm cho dù đã biết nguyên nhân, cơ chế gây bệnh nhưng cho đến nay chưa có phương pháp nào điều trị hữu hiệu. cách tốt nhất để phòng chống lại căn bệnh này vẫn là các biện pháp phòng bệnh, nhất là các biện pháp phòng chống sự phát sinh bụi silic (SiO 2) trong môi trường lao động. Tình hình nghiên cứu môi trường lao động với sức khoẻ trên thế giới: Cho đến nay giới khoa học và vệ sinh công nghiệp trên thế giới đã tổ chức nhiều hội nghị khoa học quốc tế về ”Tác động phối hợp của môi trường lao động” như tại Phần Lan (1987), Nhật Bản (1986).A (1987) nghiên cứu tác động phối hợp của việc hút thuốc lá với nhiễm độc SO 2 và Arsennic đến tỷ lệ chết của công nhân nấu đồng Mỹ. Scheffer M, Dupuis H (1989) nghiên cứu tác động phối hợp của nhiệt độ không khí với nhiệt độ da.
Tác giả Voscresemski (1898) đã phân tích được nồng độ bụi chứa Silic ở trong phổi và các hạch phế quản. Ông đã khẳng định rằng khối lượng bụi chứa silic trong phổi của thợ mỏ nhiều hơn của những người khác. 5 Từ đầu thế kỷ XX, nhờ có các phương pháp kỹ thuật tiến bộ, nhất là máy X quang nên việc nghiên cứu bệnh bụi phổi nói chung và bệnh bụi phổi silic nói riêng cũng đạt được kết quả về nhiều mặt, được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới. Hội nghị quốc tế lần đầu tiên chính thức thảo luận về bệnh bụi phỏi silic được tổ chức ở Tohamnesburg (Nam phi) năm 1930.
ILO (1980) đưa ra bảng phân loại kèm theo bộ phim mẫu, áp dụng cho tất cả các nước có bệnh bụi phổi silic. Nhiều nước trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về bệnh bụi phổi Silic. Vì tác hại nghiêm trọng của nó đến sức khoẻ, tính mạng của công nhân lao động, do đó nhiều hội nghị quốc tế, quốc gia về bệnh bụi phổi silic đã được tổ chức. Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khoẻ công nhân trong nước: Ở nước ta đã có một số nghiên cứu về tác động của vi khí hậu nóng, hơi khí độc, bụi đến sinh lý và bệnh tật của công nhân.
Quang Hà và Đào Ngọc phong (1986) đánh giá sự tương quan giữa các dấu hiệu bệnh lý viêm phế quản mạn với bụi, CO 2. Cùng tác giả Đào ngọc Phong và Chu Văn Thăng (1985) nghiên cứu phối hợp tác động bụi, SO 2 đến bệnh hô hấp. Tác giả Nguyễn Bá Chẳng (2001) nghiên cứu tình hình vệ sinh môi trường khu dân cư đô thị Quảng ninh dưới ảnh hưởng của bụi và các yếu tố lý hoá khác. Nguyễn ngọc anh (2001) nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ gây bệnh bụi phổi Silic ở công nhân khai thác than nội địa Thái Nguyên cho thấy có khoảng 10% công nhân mắc bệnh bụi phổi Silic.
6 Theo Nguyễn Khắc Hải (1998) nghiên cứu ô nhiễm môi trường và sức khoẻ, bệnh tật của công nhân ngành vật liệu xây dụng, mô hình bệnh tật chủ yếu là: - Bệnh phế quản – phổi chiếm tỷ lệ 70,18%. - Bệnh tai mũi họng chiếm tỷ lệ 20,40%. - Bệnh điếc nghề nghiệp chiếm tỷ lệ 19,00%. - Bệnh mắt chiếm tỷ lệ 6,20%.
Theo số liệu thồng kê của Bộ Y tế đến tháng 12/2001 cả nước có khoảng 12.688 trường hợp mắc bệnh bụi phổi Silic được giám định và cấp sổ chiếm 76,29% trong tổng số các bệnh nghề nghiệp được phát hiện. Tình hình môi trường lao động và bệnh nghề nghiệp của công nhân mỏ than Na Dương – Lạng Sơn: 1. Tình hình chung: Mỏ than Na Dương mằn ở phía đông bắc Tỉnh Lạng Sơn, mỏ cung cấp nhiên liệu chủ yếu than cho nhà máy nhiệt điện Na Dương của Tỉnh và nhà máy xi măng Bỉm Sơn. Do hàm lượng lưu huỳnh trong than rất cao (năm 2008 đo là 18,2 và năm 2009 đo được 18,6)cho nên khi đốt cháy sinh ra nhiều hơi khí độc.
Do vậy ở đây than chỉ sử dụng cho các ngành công nghiệp, mà không dùng được cho sinh hoạt đời sống nhân dân. Theo số liệu khoa sức khoẻ Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn có trên 600 công nhân của mỏ trực tiếp làm việc trong môi trường ô nhiễm bụi Silic. Với kết quả đo môi trường lao động năm 2008 của Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn phối hợp với Trung tâm Y tế lao động Bưu Điện tại mỏ than Na Dương cho thấy: - Hàm lượng Silic trong bụi: 9 - 32%. - Nồng độ bụi toàn phần: 1,2 – 26,3%.
7 - Nồng độ bụi hô hấp: 0,5 – 20,1%. - Nhiệt độ môi trường lao động mùa hè: 28,1 – 38,7oC. - Vận tốc gió: 0,5 – 1,7 m/s. Tình hình sức khoẻ về bệnh nghề nghiệp của công nhân mỏ than Na Dương: Theo số liệu thống kê của Hội đồng giám định Y khoa và khoa sức khoẻ nghề nghiệp Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn cho đến nay tại mỏ than Na Dương đã phát hiện 63 trường hợp mắc bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp, Hàng năm số mắc mới được khám và phát hiện trên 10 người.
Lạng Sơn là một Tỉnh được Bộ Y tế chọn Tỉnh nhóm 2 chương trình phòng chống bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2008 – 2010 mục tiêu hàng năm giảm tỷ lệ mắc mới và tiến tới thanh toán bệnh bụi phổi Silic vào năm 2030 theo chủ trương toàn cầu. 8 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Đối tượng nghiên cứu: 2. Người lao động: Tất cả cán bộ nhân viên khối văn phòng công ty và công nhân từ khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến mỏ than Na Dương không phân biệt giới, tuổi đời và tuổi nghề, gồm 601 công nhân.
Dựa vào đặc điểm nghề nghiệp và môi trường lao động, chúng tôi chia đối tượng ra làm 3 nhóm nghiên cứu theo TCVN: 5508 – 1991, 5509 – 1991, 3985 – 1999 505/BYT. Và sử dụng theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và vệ sinh Môi trường. Nhóm I: Nhóm nghề có nguy cơ cao (nhóm NC cao) bao gồm các nghề khai thác than, lái máy súc, máy gạt, khoan nổ mìn, sàng tuyển than… nhóm này có 226 công nhân. Trong đó có 119 công nhân nam và 107 Công nhân nữ.
Nhóm II: Nhóm nghề có nguy cơ vừa (nhóm NC vừa) bao gồm: thợ cơ khí, cơ điện, lái xe, bảo vệ mỏ, quản đốc, phó quản đốc và cán bộ kỹ thuật… nhóm này có 237 công nhân. Trong đó có 176 công nhân nam và 61 Công nhân nữ. Nhóm III: Nhóm nguy cơ thấp (nhóm NC thấp) gồm khối văn phòng quản lý, Y tế, cấp dường nhà bếp nhóm này môi trường vi khí hậu nồng độ bụi thấp hơn hai nhóm NC cao và NC vừa. Nhóm này có 138 công nhân.
Trong đó có 88 công nhân nam và 50 Công nhân nữ. Môi trường lao động: Đo vi khí hậu, độ ồn, bụi hô hấp, bụi toàn phần, hàm lượng SiO2 và một số hơi khí độc… 2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 8 năm 2010. Địa điểm nghiên cứu: Chúng tôi chọn địa điểm nghiên cứu mỏ than Na Dương huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn thuộc Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam – Công ty TNHH một thành viên than Na Dương – VVMI được thành lập tháng 7 năm 1959.
Cơ sở hạ tầng cũng như trang thiết bị và chuyển giao do Liên Xô cũ giúp ta xây dựng. Hiện nay các trang thiết bị phục vụ khai thác, chế biến của Liên xô cũ giúp đỡ đã xuống cấp. Công ty TNHH MTV than Na Dương VVMI đã tự mua sắm mới các trang thiết bị, tuy nhiên chưa được đồng bộ. Than Na Dương là loại than vừa ở dạng than cám và than cục chỉ phục vụ cho các ngành công nghiệp mà không dùng được cho nhân dân sinh hoạt.
Mỗi năm mỏ khai thác và sản xuất được 650. Trữ lượng của mỏ khoảng 50 triệu tấn, hiện nay mỏ than Na Dương có 601 công nhân trong đó có 383 công nhân nam và 216 công nhân nữ. Phương pháp nghiên cứu: Đây là một phương pháp nghiên cứu hồi cứu số liệu trong 2 năm 2008 – 2009 2.