Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khủng hoảng năng lượng, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu là những thách thức lớn đối với phát triển nông nghiệp bền vững. Tại Việt Nam, nhiều địa phương đã đẩy mạnh phát triển cây dong riềng (Canna edulis Ker) nhằm đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho người dân khu vực nông thôn, miền núi như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Lạng Sơn. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 16 tỉnh, diện tích đất tự nhiên 10.876 ha (chiếm 31% diện tích cả nước) và dân số 13 triệu người (trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 40%). Mặc dù sở hữu tiềm năng nông lâm nghiệp lớn, khu vực này vẫn đối mặt với tỷ lệ hộ nghèo cao do điều kiện địa hình phức tạp, giao thông cách trở và tập quán canh tác lạc hậu.

Dong riềng là cây thân thảo có biên độ thích ứng sinh thái rộng, chịu hạn tốt, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi cao và cho năng suất củ tươi từ 45 - 60 tấn/ha với hàm lượng tinh bột 13,36 - 16,4%. Củ dong riềng là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất miến dong, bánh kẹo và thức ăn chăn nuôi, mang lại lợi nhuận bình quân 60 - 80 triệu đồng/ha từ củ tươi. Tuy nhiên, năng suất và hiệu quả sản xuất dong riềng tại vùng Trung du miền núi phía Bắc nói chung và Thái Nguyên nói riêng vẫn chưa đạt mức tiềm năng. Nguyên nhân xuất phát từ việc áp dụng các biện pháp thâm canh chưa đồng bộ, chưa tuân thủ khung thời vụ chuẩn xác và đặc biệt là chưa xác định được mật độ, khoảng cách trồng phù hợp cho từng giống mới.

Nhằm giải quyết bất cập nêu trên, đề tài được triển khai với mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích của đề tài: Xác định mật độ trồng thích hợp cho giống dong riềng DR3 nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng.
  • Yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của giống dong riềng DR3.
    2. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng DR3.
    3. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống dong riềng DR3.
  • Đối tượng nghiên cứu: Giống dong riềng DR3 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ (thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) chọn lọc và giới thiệu.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Khu trồng cạn, Viện Khoa học sự sống (KHSS), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
    • Thời gian: Từ tháng 02 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cây dong riềng (Canna edulis Ker) thuộc họ Chuối hoa (Cannaceae), bộ Scitaminales, có bộ nhiễm sắc thể cơ bản x = 9 với hai dạng số lượng là nhị bội (2n = 18) và tam bội (2n = 27). Cây có nguồn gốc từ vùng Nam Mỹ và được nhập nội vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 19. Dong riềng thích hợp với nhiệt độ 25 - 30°C, có khả năng chịu lạnh khá và sinh trưởng tốt ở độ cao trên 2.500 m so với mực nước biển. Cây không đòi hỏi khắt khe về ánh sáng, có thể trồng xen dưới tán cây khác; điều kiện ngày ngắn kích thích quá trình tích lũy tinh bột và phình to của thân rễ, trong khi ngày dài kích thích phát triển thân lá. Bộ rễ chùm ăn nông ở tầng đất 20 - 30 cm do thân rễ phát triển theo chiều ngang, cây chịu hạn tốt nhưng rất kém chịu úng. Mật độ trồng quyết định cấu trúc không gian dinh dưỡng, mức độ cạnh tranh ánh sáng, nước và khoáng chất của quần thể. Trồng quá dày khiến thân cây vống cao, đường kính thân nhỏ, dễ đổ gãy và sâu bệnh gia tăng; trồng quá thưa tuy cá thể phát triển mạnh nhưng năng suất trên đơn vị diện tích bị suy giảm.

Quy trình thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong khóa luận gồm các nội dung chính:

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 5 công thức với 3 lần nhắc lại. Tổng diện tích khu thí nghiệm là 315 m².
    • Công thức 1 (CT1): Mật độ 40.000 cây/ha, khoảng cách 60 x 40 cm; diện tích ô 14,4 m² (3,6 x 4 m).
    • Công thức 2 (CT2): Mật độ 35.000 cây/ha, khoảng cách 70 x 40 cm; diện tích ô 16,8 m² (4,2 x 4 m).
    • Công thức 3 (CT3): Mật độ 30.000 cây/ha, khoảng cách 70 x 50 cm; diện tích ô 21,0 m² (4,2 x 5 m).
    • Công thức 4 (CT4 - Đối chứng): Mật độ 25.000 cây/ha, khoảng cách 80 x 50 cm; diện tích ô 24,0 m² (4,8 x 5 m).
    • Công thức 5 (CT5): Mật độ 20.000 cây/ha, khoảng cách 80 x 60 cm; diện tích ô 28,8 m² (4,8 x 6 m).
  • Quy trình kỹ thuật và phân bón: Đất được cày bừa tơi xốp, làm sạch cỏ dại. Thời vụ trồng vào ngày 13 tháng 02 năm 2014. Mức phân bón tính trên 1 ha gồm: 3 tấn phân vi sinh NTT + 200 kg N + 100 kg P₂O₅ + 200 kg K₂O. Phân bón được chia bón lót (100% phân vi sinh + 100% P₂O₅ + 50% N) và hai lần bón thúc (thúc lần 1 sau mọc 1 tháng với 25% N + 50% K₂O; thúc lần 2 sau mọc 4 tháng với 25% N + 50% K₂O), kết hợp xới sâu cách gốc 20 - 25 cm và vun nhẹ gốc để tạo độ xốp cho củ phát triển.
  • Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi: Áp dụng theo quy chuẩn của Viện Tài nguyên và Di truyền Thực vật Quốc tế, Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) và Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Cây có củ biên soạn.
    • Theo dõi 5 khóm liên tục tại hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm (cách bờ 3 khóm), định kỳ 10 ngày/lần từ sau mọc 10 ngày đến 90 ngày.
    • Các chỉ tiêu sinh trưởng: Tỷ lệ mọc (%), ngày mọc (>50% số khóm nhú mầm), ngày ra hoa (>50% số cây nở hoa), thời gian sinh trưởng (ngày), động thái tăng trưởng chiều cao cây (đo từ mặt đất đến mút lá dài nhất), tốc độ ra lá (đánh dấu lá 3, 5, 7 trên thân chính), động thái tăng trưởng đường kính thân (đo cách gốc 10 cm bằng thước panme).
    • Đặc điểm hình thái cuối cùng (đo ở 180 ngày sau trồng): Chiều cao cuối cùng, đường kính thân đo cách gốc 50 cm, số lá/thân chính, độ đồng đều (thang điểm 1 - 9).
    • Khả năng chống chịu: Đánh giá tỷ lệ sâu ăn lá, bệnh thối thân và tính chống đổ theo thang điểm từ 1 đến 9.
    • Năng suất và cấu thành năng suất: Khối lượng củ/khóm (cân củ 5 khóm), đường kính củ cấp 1, năng suất lý thuyết (NSLT = khối lượng củ/khóm x số khóm/m²) và năng suất thực thu (NSTT) quy đổi ra tấn/ha.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê toán học bằng chương trình IRRISTAT 5.0 (phân tích phương sai ANOVA, tính toán sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa LSD₀.₀₅ và hệ số biến động CV%) kết hợp phần mềm Microsoft Excel để lập biểu bảng và dựng đồ thị.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc phát triển cây dong riềng trong chiến lược an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Đề tài làm rõ tiềm năng kinh tế của giống dong riềng mới DR3 – giống có thời gian sinh trưởng ngắn (240 - 285 ngày) và tiềm năng năng suất củ tươi đạt 96 - 120 tấn/ha khi được thâm canh đúng quy chuẩn. Phần này xác lập mục tiêu xác định mật độ trồng tối ưu, đưa ra các yêu cầu nghiên cứu về sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh tế, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài đối với việc hoàn thiện quy trình canh tác dong riềng tại tỉnh Thái Nguyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây dong riềng:

  • Về đặc tính sinh vật học: Nêu rõ nguồn gốc Nam Mỹ và phân loại thực vật của 7 loài dong riềng hoang dại và trồng trọt (Canna discolor, C. flauca, C. flaccidia, C. edulis, C. indica, C. humilis). Mô tả chi tiết cấu tạo giải phẫu thân khí sinh, thân rễ củ (biểu bì, nhu mô, lớp trụ bì và các bó mạch dẫn libe - gỗ), hệ rễ chùm và cụm hoa dạng chùm. Khẳng định hạt tinh bột dong riềng có kích thước lớn nhất trong nhóm cây lấy củ (đạt tới 150 micron so với 35 micron của sắn), hàm lượng amiloza cao (38 - 41%) tương đương đậu đỗ, tạo độ dai giòn đặc trưng cho miến dong.
  • Về tình hình sản xuất: Tổng diện tích dong riềng thế giới đạt khoảng 200.000 ha với năng suất bình quân 30 tấn/ha, tập trung lớn tại Châu Phi, Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia. Tại Việt Nam, diện tích ước tính khoảng 30.000 ha, sản lượng khoảng 450.000 tấn, hình thành các vùng chuyên canh tại Hưng Yên, Hà Nội, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lai Châu.
  • Về tình hình nghiên cứu: Dẫn chứng các kết quả nghiên cứu của Hermann và cs. (2007) từ ngân hàng gen CIP tại Ecuador (năng suất củ đạt 17 - 96 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 4 - 22%), công trình của Mai Thạch Hoành (2003) phân loại 3 nhóm giống dong riềng tại Việt Nam (dong đỏ, dong xanh, nhóm Việt - CIP), và đợt thu thập 71 mẫu nguồn gen dong riềng của Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây Rau giai đoạn 1993 - 1994. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu chuyên sâu về mật độ khoảng cách cho từng giống mới như DR3 tại Thái Nguyên còn rất hạn chế.

Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết nguồn gốc vật liệu nghiên cứu (giống DR3 từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ), điều kiện thí nghiệm tại Viện Khoa học sự sống - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thiết kế thí nghiệm 5 công thức ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại trên tổng diện tích 315 m². Quy định cụ thể định mức và phương pháp bón phân theo 3 đợt, phương pháp chăm sóc và phòng trừ dịch hại. Hệ thống hóa toàn bộ công thức tính toán, quy chuẩn đo đếm các chỉ tiêu nông học theo tài liệu chuẩn của CIP và viện chuyên ngành, cùng việc ứng dụng phần mềm IRRISTAT 5.0 để kiểm soát sai số thực nghiệm.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phân tích toàn bộ số liệu thu thập qua 5 khía cạnh nông học và kinh tế:

  • Tỷ lệ nảy mầm và thời gian sinh trưởng: Mật độ không ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ nảy mầm (dao động từ 96,7% ở CT1, CT2 đến 98,9% ở CT3). Thời gian từ trồng đến mọc mầm dao động 23 - 25 ngày; thời gian ra hoa từ 135 - 137 ngày; tổng thời gian sinh trưởng từ trồng đến thu hoạch đạt 267 - 270 ngày (CT1 và CT4 thu hoạch sau 267 ngày, CT2 thu hoạch muộn nhất sau 270 ngày).
  • Động thái sinh trưởng:
    • Chiều cao cây: Chiều cao tăng liên tục từ 10 đến 90 ngày sau mọc. Mật độ trồng dày kích thích cây vươn cao do cạnh tranh ánh sáng. Tại thời điểm 90 ngày sau mọc, CT1 đạt chiều cao lớn nhất (149,7 cm), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với CT4 đối chứng (144,4 cm) và CT5 (139,3 cm) ở mức xác suất 95%. Chiều cao cây cuối cùng lúc 180 ngày của CT1 đạt cao nhất (163,4 cm), trong khi CT5 đạt thấp nhất (150,9 cm), sai khác giữa các công thức đạt độ tin cậy P < 0,05 (LSD₀.₀₅ = 6,59 cm).
    • Đường kính thân: Tỷ lệ nghịch với mật độ trồng. Tại thời điểm 90 ngày sau mọc, CT5 đạt đường kính thân lớn nhất (3,63 cm), trong khi CT1 đạt thấp nhất (3,36 cm) với P < 0,05. Ở giai đoạn cuối cùng (đo cách gốc 50 cm), đường kính thân dao động từ 2,19 cm (CT1) đến 2,41 cm (CT5), sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).
    • Tốc độ ra lá và độ đồng đều: Mật độ không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số lá trên thân chính ở hầu hết các giai đoạn. Đến 90 ngày sau mọc, số lá đạt 11,00 - 11,33 lá/thân chính; tổng số lá cuối cùng đạt 11,53 - 12,73 lá (P > 0,05). Về độ đồng đều quần thể, CT3, CT4 và CT5 đạt điểm 7 (khá đồng đều), trong khi CT1 và CT2 đạt điểm 5 (trung bình).
  • Sâu bệnh hại và tính chống đổ: Các công thức trồng dày (CT1, CT2) bị sâu ăn lá ở mức điểm 5, bệnh thối thân điểm 5 và tính chống đổ điểm 3 (thấp hơn đối chứng). Công thức CT3 và CT5 có khả năng chống đổ đạt điểm 1 (rất tốt), mức độ sâu ăn lá nhẹ (điểm 3); riêng bệnh thối thân ở CT3 ở mức điểm 5 do độ che phủ tán cao giữ ẩm đất, trong khi CT5 đạt điểm 3.
  • Năng suất và các yếu tố cấu thành: Đường kính củ cấp 1 đạt cao nhất ở CT3 (3,39 cm), thấp nhất ở CT1 (2,64 cm). Khối lượng củ/khóm đạt cao nhất ở CT3 (2,06 kg) và thấp nhất ở CT1 (1,65 kg). Năng suất lý thuyết giảm dần theo sự giảm của mật độ (CT1 đạt 66,13 tấn/ha, CT5 đạt 40,53 tấn/ha). Tuy nhiên, năng suất thực thu đạt cao nhất ở CT3 (48,53 tấn/ha), vượt trội chắc chắn so với đối chứng CT4 (43,70 tấn/ha) và CT5 (39,63 tấn/ha) ở mức ý nghĩa P < 0,05 (LSD₀.₀₅ = 3,5 tấn/ha).
  • Hạch toán hiệu quả kinh tế: Với tổng chi phí sản xuất dao động từ 24,82 - 26,62 triệu đồng/ha, CT3 đạt doanh thu cao nhất (58,20 triệu đồng/ha) và mang lại lãi thuần cao nhất là 32,48 triệu đồng/ha (cao hơn đối chứng CT4 đạt 27,02 triệu đồng/ha và CT5 đạt 22,70 triệu đồng/ha).
Chỉ tiêu theo dõi CT1 (40.000 cây/ha) CT2 (35.000 cây/ha) CT3 (30.000 cây/ha) CT4 - Đ/C (25.000 cây/ha) CT5 (20.000 cây/ha) LSD₀.₀₅ CV (%)
Chiều cao cây cuối cùng (cm) 163,4 160,2 157,2 155,7 150,9 6,59 2,2
Đường kính thân cuối cùng (cm) 2,19 2,24 2,33 2,37 2,41 0,18 4,2
Tổng số lá/thân chính (lá) 12,33 12,46 12,66 11,53 12,73 1,35 5,8
Đường kính củ cấp 1 (cm) 2,64 3,09 3,39 3,16 3,12 0,19 3,3
Khối lượng củ/khóm (kg) 1,65 1,77 2,06 2,01 2,02 0,13 3,9
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) 66,13 62,06 61,80 50,45 40,53 4,1 3,9
Năng suất thực thu (tấn/ha) 41,83 43,40 48,53 43,70 39,63 3,5 4,3
Lãi thuần (triệu đồng/ha) 23,54 26,06 32,48 27,02 22,70 - -

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các phát hiện then chốt về quy luật tác động của mật độ tới giống dong riềng DR3, khẳng định CT3 (mật độ 30.000 cây/ha, khoảng cách 70 x 50 cm) là mật độ tối ưu nhất. Tác giả kiến nghị đưa công thức này áp dụng thử nghiệm trên quy mô đồng ruộng sản xuất đại trà.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm chuẩn xác về các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và hiệu quả kinh tế của giống dong riềng DR3 dưới các mật độ gieo trồng khác nhau tại Thái Nguyên:

  • Kết quả sinh trưởng và hình thái: Mật độ trồng không làm biến đổi thời gian sinh trưởng của giống DR3 (dao động trong khoảng 267 - 270 ngày) và tỷ lệ nảy mầm (đều đạt trên 96,7%). Mật độ cao (CT1: 40.000 cây/ha) kích thích vươn cao mạnh (163,4 cm), nhưng làm giảm đường kính thân (2,19 cm) và giảm kích thước củ (2,64 cm). Trồng thưa (CT5: 20.000 cây/ha) giúp cây mập mạp (đường kính thân 2,41 cm) nhưng lãng phí diện tích, cấu trúc quần thể thưa làm giảm năng suất tổng thể.
  • Kết quả năng suất và giá trị kinh tế: Công thức 3 (mật độ 30.000 cây/ha, khoảng cách 70 x 50 cm) tạo ra sự cân đối tối ưu giữa sức sinh trưởng cá thể và sức sản xuất của quần thể. Ở công thức này, đường kính củ đạt kích thước lớn nhất (3,39 cm), khối lượng củ/khóm đạt đỉnh (2,06 kg), dẫn đến năng suất thực thu cao nhất (48,53 tấn/ha, cao hơn đối chứng 4,83 tấn/ha) và lãi thuần cao nhất (32,48 triệu đồng/ha, cao hơn đối chứng 5,46 triệu đồng/ha).
Chỉ tiêu kinh tế CT1 (40.000 cây/ha) CT2 (35.000 cây/ha) CT3 (30.000 cây/ha) CT4 - Đ/C (25.000 cây/ha) CT5 (20.000 cây/ha)
Năng suất củ tươi (tấn/ha) 41,83 43,40 48,53 43,70 39,63
Tổng thu (triệu đồng/ha) 50,16 52,08 58,20 52,44 47,52
Tổng chi (triệu đồng/ha) 26,62 26,02 25,72 25,42 24,82
Lãi thuần (triệu đồng/ha) 23,54 26,06 32,48 27,02 22,70
  • Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật: Khuyến cáo người sản xuất áp dụng mật độ trồng 30.000 cây/ha với khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 50 cm cho giống dong riềng DR3.
  • Đóng góp của đề tài: Là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên xác lập cơ sở khoa học về mật độ và khoảng cách trồng cho giống dong riềng DR3 trên vùng đất trồng cạn tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cung cấp luận cứ kỹ thuật cụ thể bổ sung vào quy trình canh tác dong riềng tại vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trên quy mô diện tích hẹp (315 m²) tại khu trồng cạn của Viện Khoa học sự sống, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chưa mở rộng ra các dạng lập địa đồi núi dốc đặc thù của các địa phương lân cận.
    • Thời gian nghiên cứu dừng lại ở chu kỳ theo dõi một vụ cây trồng (từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2014), chưa đánh giá được ảnh hưởng tương tác của các yếu tố khí hậu, thời tiết qua các năm liên tiếp.
    • Nghiên cứu chỉ đánh giá năng suất củ tươi và sơ bộ hạch toán kinh tế từ việc bán củ, chưa đi sâu phân tích tỷ lệ thu hồi tinh bột, hàm lượng tinh bột khô và chất lượng tinh bột của giống DR3 dưới tác động của các mật độ trồng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Đưa công thức mật độ 30.000 cây/ha (khoảng cách 70 x 50 cm) ra khảo nghiệm diện rộng trên đồng ruộng sản xuất đại trà tại các vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Thái Nguyên và khu vực miền núi phía Bắc.
    • Tiếp tục nghiên cứu kết hợp giữa mật độ với các liều lượng phân bón NPK và phân hữu cơ khác nhau nhằm xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh hoàn chỉnh cho giống DR3.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Sinh viên và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt có thể sử dụng đề tài như một mẫu nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng chuẩn mực, từ cách thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, phương pháp đo đếm chỉ tiêu hình thái - năng suất theo chuẩn CIP đến quy trình xử lý số liệu bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.
  • Cán bộ khuyến nông và kỹ sư nông nghiệp: Tham khảo số liệu thực tế về động thái sinh trưởng, mức độ phát sinh sâu bệnh (sâu ăn lá, bệnh thối thân) và hạch toán chi phí - lợi nhuận để xây dựng mô hình trình diễn hoặc khuyến cáo kỹ thuật canh tác dong riềng DR3 cho bà con nông dân.
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Bảng số liệu chi tiết về động thái tăng trưởng chiều cao, đường kính thân từ 10 đến 90 ngày sau mọc (Bảng 4.2, 4.3); số liệu tương quan giữa mật độ với các yếu tố cấu thành năng suất (Bảng 4.7); và bảng hạch toán hiệu quả kinh tế (Bảng 4.8).

Câu hỏi thường gặp

1. Giống dong riềng DR3 được sử dụng trong nghiên cứu có nguồn gốc từ đâu và có đặc điểm sinh học gì nổi bật?
Giống dong riềng DR3 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ (thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) chọn lọc và giới thiệu. Giống có thời gian sinh trưởng ngắn (240 - 285 ngày), tỷ lệ nảy mầm tốt, sinh trưởng phát triển khỏe, tiềm năng năng suất củ tươi đạt từ 96 - 120 tấn/ha nếu trồng đúng mật độ và thâm canh tốt.

2. Công thức mật độ nào cho năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế cao nhất trong 5 công thức thí nghiệm?
Công thức 3 với mật độ 30.000 cây/ha (khoảng cách 70 x 50 cm) cho kết quả tốt nhất: năng suất thực thu đạt 48,53 tấn/ha (cao nhất trong các công thức) và lãi thuần đạt 32,48 triệu đồng/ha, cao hơn công thức đối chứng CT4 (43,70 tấn/ha và 27,02 triệu đồng/ha) và CT5 (39,63 tấn/ha và 22,70 triệu đồng/ha).

3. Tại sao công thức 1 có năng suất lý thuyết cao nhất nhưng năng suất thực thu lại thấp hơn công thức 3?
Công thức 1 trồng ở mật độ dày nhất (40.000 cây/ha, 60 x 40 cm) nên số khóm trên đơn vị diện tích lớn, đẩy năng suất lý thuyết lên mức cao nhất (66,13 tấn/ha). Tuy nhiên, mật độ quá dày dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và dinh dưỡng, làm cho khối lượng củ/khóm giảm mạnh (chỉ đạt 1,65 kg/khóm so với 2,06 kg/khóm ở CT3), đường kính củ nhỏ (2,64 cm), tỷ lệ đổ ngã và sâu bệnh cao hơn, khiến năng suất thực thu chỉ đạt 41,83 tấn/ha.

4. Mật độ trồng ảnh hưởng như thế nào đến khả năng chống đổ và tình hình sâu bệnh hại của giống DR3?
Mật độ trồng tỷ lệ thuận với mức độ gây hại của sâu bệnh và nguy cơ đổ gãy. Trồng dày (CT1, CT2) khiến cây vống cao, thân nhỏ, khả năng chống đổ kém hơn (điểm 3); mức độ hại của sâu ăn lá và bệnh thối thân đạt điểm 5. Trồng thưa hơn (CT3, CT4, CT5) giúp cây cứng cáp, khả năng chống đổ đạt điểm 1 (rất tốt); mức độ sâu ăn lá giảm xuống điểm 3, bệnh thối thân ở CT5 chỉ ở mức điểm 3.

5. Nền phân bón được áp dụng cho 1 ha trong thí nghiệm gồm những loại phân nào và phương pháp bón ra sao?
Lượng phân bón cho 1 ha gồm: 3 tấn phân vi sinh NTT + 200 kg N + 100 kg P₂O₅ + 200 kg K₂O. Phương pháp bón chia làm 3 lần: bón lót toàn bộ 100% phân vi sinh + 100% P₂O₅ + 50% N; bón thúc lần 1 (sau mọc 1 tháng) gồm 25% N + 50% K₂O; bón thúc lần 2 (sau mọc 4 tháng) gồm 25% N + 50% K₂O kết hợp làm cỏ, xới sâu cách gốc 20 - 25 cm và vun nhẹ đất vào gốc.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Ngọc Huệ đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu thực nghiệm nông học về ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách tới giống dong riềng DR3 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong vụ trồng năm 2014. Kết quả nghiên cứu khẳng định mật độ 30.000 cây/ha (khoảng cách 70 x 50 cm) giúp cây sinh trưởng cân đối, chống đổ tốt, ít bị sâu bệnh hại, đạt năng suất thực thu cao nhất (48,53 tấn/ha) và lãi thuần cao nhất (32,48 triệu đồng/ha). Đây là cơ sở khoa học tin cậy để khuyến cáo bà con nông dân và các cơ sở sản xuất áp dụng vào canh tác đại trà nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế từ cây dong riềng tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc.