MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang rất quan tâm tìm hướng giải quyết cho những vấn đề quan trọng như khủng hoảng về năng lượng, các rủi ro về môi trường và an ninh lương thực. Đã có nhiều nước quan tâm phát triển nhiều loại cây trồng đảm bảo đáp ứng về lương thực, thực phẩm cho người và gia súc, gia cầm, trong đó có nghiên cứu và phát triển cây dong riềng. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã tập trung chỉ đạo phát triển cây dong riềng và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, có nơi cây dong riềng còn góp phần xóa đói giảm nghèo như Bắc Kạn, Điện Biên, Quảng Ninh, Lai Châu… Vùng Trung du và miền núi phía bắc Việt Nam là địa bàn đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng chủ yếu của địa bàn Thái Nguyên gồm 16 tỉnh với diện tích 10.876 ha (chiếm 31% diện tích cả nước), dân số 13.000, chiếm 15,1% dân số cả nước (trong đó 40% là người dân tộc thiểu số).
Vùng trung du miền núi phía Bắc được xác định là vùng có tiềm năng lớn về phát triển nông lâm nghiệp. Trong những năm qua, nông lâm nghiệp của vùng có nhiều thay đổi nhờ các chính sách hỗ trợ của chính sách hỗ trợ phát triển của nhà nước và địa phương. Tuy nhiên do hạn chế về trình độ dân trí, điều kiện địa lý, giao thông và tập quán canh tác lạc hậu…nên vùng Trung du, miền núi phía Bắc vẫn là vùng chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, thu nhập của người dân còn thấp. Hiện nay, vấn đề phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn lương thực và xóa nghèo là rất cần thiết.
Để giải quyết vấn đề đó cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó việc lựa chọn cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với tiềm năng của địa phương và nhu cầu của người dân là vấn đề được ưu tiên hàng đầu. 2 Cây dong riềng (Canna edulis Ker) cây thân thảo, họ dong riềng (Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Trên thế giới dong riềng có khá nhiều giá trị sử dụng như tinh bột cung cấp dinh dưỡng cho con người, thân lá làm thức ăn gia súc, phần non có thể làm rau ăn, hạt non được dùng làm nhân bánh, hạt già có thể làm đồ trang sức, (Pulmass, 1985). Cây dong riềng được trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ 19.
Dong riềng là cây sinh trưởng phát triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng trồng được trên nhiều loại đất kể cả các vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 - 60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ 13,36 - 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và Cs, 2010)[5]. Do có hàm lượng tinh bột cao nên củ dong riềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc đặc biệt là được sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo… Ngoài ra thân lá dong riềng còn dùng cho chăn nuôi gia súc nên góp phần tận dụng chăn nuôi phát triển. Theo đánh giá của người dân dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao. Một ha trồng dong riềng cho doanh thu 80 - 100 triệu, trừ chi phí đi khoảng 20 - 25 triệu, người dân có thể lãi trung bình khoảng 60 - 80 triệu đồng/ha (thu từ củ).
Trồng dong riềng trên diện tích lớn hoặc chế biến thành tinh bột có thể lãi nhiều hơn. Cây dong riềng là cây có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng được đồng bào nhiều cùng quan tâm phát triển, nhất là ở miền núi và được xem như một loại cây chiến lược cho sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, năng suất của dong riềng ở nước ta còn thấp, do thực hiện một số biện pháp kỹ thuật thâm canh chưa cao và chưa đồng bộ như chưa trồng đúng thời vụ cũng như mật độ khoảng cách không hợp lý. 3 Để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất dong riềng, việc nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ mới như: Giống, các biện pháp kỹ thuật canh tác (mật độ trồng, thời vụ) vào sản xuất dong riềng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng dong riềng, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân là vấn đề cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và khoảng cách tới sinh trưởng và năng suất của giống dong riềng DR3 tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định mật độ trồng thích hợp cho dong riềng nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của giống dong riềng năm DR3.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống dong riềng DR3. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống dong riềng DR3. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất.
- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, có phương pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ý nghĩa trong sản xuất Là cơ sở khuyến cáo kỹ thuật cho nông dân lựa chọn mật độ trồng phù hợp có năng suất cao, chất lượng tốt nhất để đưa vào áp dụng sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung. 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Mỗi một loại cây trồng yêu cầu một mật độ trồng nhất định.
Mật độ trồng thích hợp sẽ giúp cho cây sử dụng tối đa các điều kiện của đồng ruộng giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích lũy của cây tăng từ đó tăng năng suất và chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế. Khi trồng ở mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết. Khi đất không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cây sẽ phát triển kém, củ sẽ nhỏ. Trong khoảng không gian hẹp, để có thể lấy được ánh sáng cây phải phát triển chiều cao cây tối đa vì vậy sẽ làm cho cây yếu, khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh kém.
Trồng ở mật độ thấp cây không phải cạnh tranh dinh dưỡng nên sinh trưởng phát triển tốt, cho củ to nhưng năng suất quần thể giảm. Vì vậy việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2. Nguồn gốc Cây dong riềng có nguồn gốc phát sinh ở Peru, Nam Mỹ, được trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ 19.
Được chế biến lấy bột để làm lương thực và thực phẩm là chính. Người ta đã phát hiện được 7 loại dong riềng có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới. Flauca ở Tây Ấn và Mehico. Flaccidia ở Nam Mỹ.
Edulis ở Châu Mỹ nhiệt đới. Indica ở Châu Mỹ nhiệt đới. Humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới.
Nam Mỹ là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann, 1999). Phân loại cây dong riềng - Tên khoa học: Canna Edulis Ker - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea - Bộ: Scitaminales - Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam giác bội 2n = 2X = 27 2. Phân bố dong riềng Trên thế giới dong riềng được trồng quy mô thương mại lớn tại các nước vùng Nam Mỹ, Châu Phi và một số nước Nam Thái Bình Dương. Tại Châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và CS, 2007)[15].
Đặc điểm thực vật học cây dong riềng Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân sinh khí và thân củ. Thân sinh khí trung bình cao từ 1,2 m đến 1,5 m có những giống có thể cao trên 2,5m. Thân cây thường có màu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa lóng là các đốt.
Thân sinh khí được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân sinh khí cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ, trong cùng là nhu mô. 7 Củ: Củ dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần.
Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp theo là những nhu mô bên trong có những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô bên trong có chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột.
So với thân khí sinh, thân rễ có ít bó cương mô hơn. Năng suất dong riềng rất cao.