Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây lúa (Oryza sativa L.) giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản tại Việt Nam. Trong tập quán canh tác truyền thống tại các nông hộ, người sản xuất thường có xu hướng cấy dày và cấy nhiều dảnh trên một khóm. Phương thức này khiến quần thể ruộng lúa trở nên rậm rạp, tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng một cách vô ích, giảm hiệu suất quang hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng sâu bệnh hại phát sinh, từ đó làm giảm năng suất và phẩm chất hạt thóc. Việc xác định mật độ cấy tối ưu có ý nghĩa quyết định trong việc điều tiết cấu trúc quần thể, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường đất và phát huy tối đa tiềm năng di truyền của giống.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Hạnh, chuyên ngành Khoa học cây trồng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2014, do TS. Phạm Văn Ngọc hướng dẫn) tập trung giải quyết vấn đề thiết lập mật độ cấy thích hợp cho giống lúa mới Nông Lâm 7 tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa Nông Lâm 7 trong vụ xuân và vụ mùa năm 2013 tại Thái Nguyên.
  2. Xác định mật độ cấy phù hợp cho giống lúa Nông Lâm 7 trong điều kiện sinh thái vụ xuân và vụ mùa nhằm đạt hiệu quả nông học tối ưu.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Theo dõi diễn biến các yếu tố khí tượng, thời tiết tại địa bàn nghiên cứu trong hai vụ canh tác năm 2013.
  2. Xác định ảnh hưởng của các mật độ cấy khác nhau đến thời gian sinh trưởng, động thái ra lá và khả năng đẻ nhánh của giống lúa Nông Lâm 7.
  3. Đánh giá một số đặc điểm nông học cơ bản (chiều cao cây, chiều dài lá đòng, chiều dài bông, độ thoát cổ bông) và tình hình phát sinh sâu bệnh hại.
  4. Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất theo phương pháp khảo nghiệm chuẩn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống lúa thuần Nông Lâm 7 (đã được công nhận giống tạm thời).
  • Phạm vi không gian: Khu thực hành thực nghiệm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (bố trí trên nền đất vàng trung bình, chủ động tưới tiêu).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện qua 2 vụ trong năm 2013, gồm vụ xuân (từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2013) và vụ mùa (từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2013).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sinh học: Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý sinh lý học và hình thái học cây lúa:

  • Thuyết đẻ nhánh của Katayama: Cây lúa khi đạt 4 lá thật bắt đầu có khả năng đẻ nhánh; cứ xuất hiện thêm một lá trên thân chính thì tương ứng tại nách lá đó có khả năng sinh ra một nhánh mới; các nhánh đẻ sớm ở mắt đẻ thấp có đủ số lá và điều kiện dinh dưỡng sẽ phát triển thành nhánh hữu hiệu (nhánh mang bông).
  • Vai trò của bộ lá công năng: Lá đòng và hai lá kề dưới lá đòng giữ vai trò quang hợp chủ đạo trong giai đoạn trỗ và làm hạt, cung cấp khoảng 2/3 tổng lượng vật chất dinh dưỡng tích lũy vào bông lúa.
  • Mối quan hệ cấu trúc quần thể: Chỉ số diện tích lá (LAI), sự cân bằng giữa mật độ khóm, số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông và khối lượng 1000 hạt (P1000 hạt) theo quan điểm của Đinh Văn Lữ, Bùi Huy Đáp và Nguyễn Văn Hoan.

Tiêu chuẩn và quy chuẩn áp dụng:

  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa (10 TCN 558 - 2002).
  • Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI).

Phương pháp bố trí thí nghiệm:

  • Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), gồm 4 công thức mật độ, nhắc lại 3 lần:
    • Công thức 1 (M1): Cấy 1 dảnh/khóm, mật độ 35 khóm/m²
    • Công thức 2 (M2): Cấy 1 dảnh/khóm, mật độ 40 khóm/m²
    • Công thức 3 (M3): Cấy 1 dảnh/khóm, mật độ 45 khóm/m²
    • Công thức 4 (M4): Cấy 1 dảnh/khóm, mật độ 50 khóm/m²
  • Quy cách ô thí nghiệm: Diện tích mỗi ô là 10 m², tổng diện tích khu thí nghiệm là 480 m² (bao gồm dải bảo vệ xung quanh).

Quy trình kỹ thuật canh tác áp dụng:

  • Gieo mạ: Sử dụng kỹ thuật mạ khay bằng khay nhựa kích thước 30 x 20 x 30 cm; giá thể gồm đất nhỏ mịn phối trộn phân vi sinh theo tỷ lệ 7:3, chiều dày tầng đất 2,5 cm; xử lý hạt giống bằng nước ấm 54°C (3 sôi 2 lạnh) để kích thích nảy mầm và diệt mầm nấm bệnh; ngâm hạt 36 giờ, định kỳ thay nước rửa chua 8–10 giờ/lần; ủ đến khi mầm dài 0,5–1 cm thì đem gieo.
  • Thời gian gieo cấy: Vụ xuân cấy ngày 23/02/2013; vụ mùa cấy ngày 14/07/2013.
  • Nền phân bón: Mức bón tính cho 1 ha gồm 8 tấn phân chuồng + 100 kg N + 90 kg P₂O₅ + 100 kg K₂O. Phương thức bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân và 20% đạm; bón thúc đợt 1 (giai đoạn bén rễ hồi xanh) gồm 40% đạm + 50% kali; bón thúc đợt 2 (bón đón đòng) gồm 40% đạm + 50% kali.
  • Chế độ tưới tiêu: Duy trì lớp nước 3–5 cm từ lúc cấy đến kết thúc đẻ nhánh; các giai đoạn sau giữ mực nước dưới 10 cm.

Phương pháp theo dõi và thu thập dữ liệu:

  • Thời gian sinh trưởng: Ghi nhận ngày đạt các giai đoạn nảy mầm, mạ, đẻ nhánh, vươn lóng, làm đòng, trỗ bông, chín sữa, vào chắc và chín hoàn toàn trên 5 cây mẫu/ô thí nghiệm.
  • Động thái ra lá: Đánh dấu cố định 10 cây mạ; theo dõi 3 ngày/lần ở giai đoạn đầu và 7 ngày/lần khi thân chính đạt 6–7 lá; quy ước tính tuổi lá: nhú chưa mở (0,2 lá), mở một nửa (0,5 lá), xòe gần hết (0,8 lá), mở hoàn toàn (1 lá).
  • Khả năng đẻ nhánh: Đếm số dảnh định kỳ; xác định số dảnh cơ bản, số nhánh tối đa, số nhánh hữu hiệu (nhánh có ít nhất 10 hạt chắc) và tính tỷ lệ nhánh hữu hiệu theo công thức: (Số nhánh thành bông / Số nhánh cao nhất) x 100.
  • Đặc điểm nông học: Đo chiều cao cây cuối cùng (tính từ sát mặt đất đến đỉnh bông cao nhất khi chín), chiều dài lá đòng (từ cuống lá đến chóp lá), chiều dài bông (từ cổ bông đến đỉnh bông), độ thoát cổ bông đánh giá theo thang điểm từ cấp 1 (thoát tốt) đến cấp 9 (không thoát).
  • Sâu bệnh hại: Điều tra tỷ lệ hại của sâu cuốn lá, sâu đục thân (tỷ lệ dảnh chết, bông bạc) và mức độ gây hại của bệnh khô vằn theo thang điểm chuẩn.
  • Năng suất: Xác định số bông/m², số hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt (cân 2 lần, mỗi lần 500 hạt khô ẩm độ 13–14%). Năng suất lý thuyết tính bằng công thức: [Số bông/m² x Số hạt chắc/bông x P1000 hạt (g)] / 10000. Năng suất thực thu xác định bằng cách gặt toàn bộ diện tích ô thí nghiệm, tuốt hạt, phơi khô về ẩm độ 13–14%, quạt sạch tạp chất và cân khối lượng quy ra tạ/ha.

Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu được nhập và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel; phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh phân nhóm trung bình bằng kiểm định Duncan ở mức ý nghĩa α = 0,05 bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của sản xuất lúa gạo đối với an ninh lương thực và thực trạng canh tác của nông dân vùng Trung du miền núi phía Bắc. Việc gieo cấy dày, cấy nhiều dảnh/khóm làm lãng phí giống, gia tăng chi phí phân bón và sâu bệnh bùng phát. Mục tiêu đề tài xác định rõ việc đánh giá và lựa chọn mật độ cấy tối ưu cho giống lúa thuần Nông Lâm 7 trong hai vụ xuân và mùa năm 2013 tại Thái Nguyên, tạo cơ sở thực tiễn để hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích sản xuất tại địa phương.

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương này tổng thuật toàn diện các số liệu và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Sản xuất lúa thế giới: Diện tích lúa toàn cầu giai đoạn 2001–2012 biến động từ 147,6 đến 163,6 triệu ha; sản lượng tăng từ 571,4 triệu tấn (năm 2002) lên 734,1 triệu tấn (năm 2011). Số liệu FAOSTAT năm 2012 cho thấy Australia có năng suất cao nhất đạt 89,1 tạ/ha, Trung Quốc đạt 67,4 tạ/ha, Việt Nam đạt 56,3 tạ/ha (sản lượng 43,7 triệu tấn trên diện tích 7,8 triệu ha), trong khi Thái Lan đạt 30,0 tạ/ha.
  • Sản xuất lúa tại Việt Nam: Phân chia 8 vùng sinh thái lúa thuộc 3 miền sinh thái nông nghiệp; phân tích định hướng duy trì sản lượng 40 triệu tấn/năm, dành 1 triệu ha sản xuất lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
  • Cơ sở sinh vật học và nghiên cứu mật độ cấy: Khái quát đặc điểm lá lúa, chỉ số LAI (đạt đỉnh trước trỗ 7 ngày), sinh lý đẻ nhánh và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp (giống, khoảng cách, mùa vụ, phân đạm). Dẫn chứng các nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu của Tanaka Akira tại Nhật Bản và Ấn Độ; nghiên cứu của Yuan Qianhua và cộng sự (2002) tại Trung Quốc trên tổ hợp lai PA64S/9311 so sánh mật độ 90.000 khóm/ha và 300.000 khóm/ha; các công bố của Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Hoan, Trương Đích, Nguyễn Thị Lẫm, Đinh Văn Lữ về mật độ và số dảnh cấy/khóm tại Việt Nam.

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trình bày chi tiết vật liệu giống Nông Lâm 7, địa điểm bố trí tại Trung tâm thực hành thực nghiệm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn toàn (4 công thức mật độ x 3 lần nhắc lại = 12 ô, diện tích ô 10 m²), quy trình làm mạ khay, kỹ thuật làm đất, bón phân cân đối theo tỷ lệ N:P:K = 100:90:100 cùng 8 tấn phân chuồng/ha. Hệ thống hóa toàn bộ phương pháp theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, động thái ra lá, khả năng đẻ nhánh, các chỉ tiêu hình thái nông học và các yếu tố cấu thành năng suất theo chuẩn 10 TCN 558 - 2002 và IRRI.

PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

  • Điều kiện thời tiết khí hậu năm 2013 tại Thái Nguyên: Nhiệt độ trung bình vụ xuân dao động 19,3–27,9°C; vụ mùa dao động 16,7–23,8°C (theo ghi nhận của trạm khí tượng). Độ ẩm không khí duy trì ở mức 78–86%. Lượng mưa vụ mùa tập trung rất lớn vào tháng 7 (974,1 mm) và tháng 8 (405,7 mm), gây ngập úng từ 30/07/2013 đến 04/08/2013 làm chậm tiến độ đẻ nhánh.
  • Thời gian sinh trưởng: Giai đoạn mạ khay kéo dài 13 ngày (vụ xuân) và 15 ngày (vụ mùa); hồi xanh 2–3 ngày; đẻ nhánh 33–34 ngày; làm đòng 25–26 ngày; trỗ bông 4–5 ngày; chín 27–29 ngày. Tổng thời gian sinh trưởng vụ xuân là 103–105 ngày, vụ mùa là 104–106 ngày. Công thức cấy dày (M4: 50 khóm/m²) có xu hướng rút ngắn tổng thời gian sinh trưởng từ 1 đến 2 ngày so với công thức cấy thưa (M1: 35 khóm/m²) do quần thể nhanh kín hàng.
  • Động thái ra lá: Tổng số lá trên thân chính của giống Nông Lâm 7 ở cả 4 công thức đạt từ 15,8 đến 16,1 lá. Tốc độ ra lá giai đoạn đầu đạt 1,0–1,5 lá/3 ngày; sau cấy 21 ngày tăng lên 2,0–3,0 lá/7 ngày và diễn ra đồng đều giữa các mật độ.
  • Khả năng đẻ nhánh: Mật độ cấy tỷ lệ nghịch với khả năng đẻ nhánh. Ở vụ xuân, số nhánh tối đa giảm dần từ M1 (9,6 nhánh/khóm) xuống M2 (9,3), M3 (9,0) và thấp nhất ở M4 (8,6 nhánh/khóm); số nhánh hữu hiệu cao nhất ở M1 đạt 5,0 nhánh, các công thức M2, M4, M3 đạt từ 4,0 đến 4,4 nhánh; tỷ lệ nhánh hữu hiệu đạt từ 44,4% đến 52,1%. Ở vụ mùa, số nhánh tối đa cũng giảm từ M1 (9,1 nhánh) xuống M4 (8,3 nhánh); số nhánh hữu hiệu ở M1 đạt 4,9 nhánh, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với M2, M3, M4 (đạt 4,0–4,2 nhánh); tỷ lệ nhánh hữu hiệu đạt từ 45,9% đến 53,8%.
  • Một số đặc điểm nông học: Chiều cao cây cuối cùng dao động từ 110,4 đến 116,3 cm (vụ xuân) và 115,4 đến 117,9 cm (vụ mùa); chiều dài bông đạt từ 22,0 đến 24,9 cm (vụ xuân) và 23,1 đến 24,7 cm (vụ mùa); chiều dài lá đòng đạt 29,2–31,6 cm (vụ xuân) và 29,0–31,1 cm (vụ mùa). Độ thoát cổ bông ở tất cả các công thức trong cả hai vụ đều đạt điểm 7 (thoát một phần).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và kiểm định thống kê các chỉ tiêu sinh trưởng và hình thái học của giống lúa Nông Lâm 7 theo các mức mật độ cấy trong hai vụ sản xuất năm 2013:

Vụ Công thức (Mật độ) Tổng TGST (ngày) Tổng số lá (lá) Số nhánh tối đa (nhánh/khóm) Số nhánh hữu hiệu (nhánh/khóm) Tỷ lệ nhánh hữu hiệu (%) Chiều cao cây (cm) Chiều dài bông (cm) Dài lá đòng (cm) Độ thoát cổ bông (điểm)
Vụ xuân M1 (35 khóm/m²) 105 16,0 9,6ᵃ 5,0ᵃ 52,1 116,3 24,9 31,6 7
M2 (40 khóm/m²) 105 16,0 9,3ᵃᵇ 4,4ᵇ 47,3 114,6 23,8 29,3 7
M3 (45 khóm/m²) 104 16,1 9,0ᵇ 4,0ᶜ 44,4 115,6 23,4 30,0 7
M4 (50 khóm/m²) 103 16,0 8,6ᶜ 4,3ᵇᶜ 50,0 110,4 22,0 29,2 7
Vụ mùa M1 (35 khóm/m²) 106 16,0 9,1ᵃ 4,9ᵃ 53,8 117,4 24,7 31,1 7
M2 (40 khóm/m²) 105 16,0 8,8ᵇ 4,2ᵇ 47,7 117,9 24,3 30,4 7
M3 (45 khóm/m²) 105 15,8 8,7ᵇᶜ 4,0ᵇ 45,9 115,4 23,6 30,6 7
M4 (50 khóm/m²) 104 15,8 8,3ᶜ 4,2ᵇ 50,6 116,5 23,1 29,0 7

Ghi chú: Các chữ cái a, b, c biểu thị mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê theo phép thử Duncan (P < 0,01).

Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật của tác giả:

  • Để nâng cao tỷ lệ nhánh hữu hiệu và hạn chế nhánh vô hiệu gây lãng phí dinh dưỡng, cần thực hiện bón phân thúc đẻ nhánh sớm và tập trung khi lúa đạt 3–4 lá thật (khoảng 10–15 ngày sau cấy) với lượng phân bón từ 3–4 kg urê/sào.
  • Duy trì chế độ điều tiết nước nghiêm ngặt: Giữ mực nước nông 3–5 cm trong suốt thời kỳ đẻ nhánh để kích thích ra rễ và đẻ nhánh sớm, sau đó khống chế mực nước không vượt quá 10 cm ở các giai đoạn sau.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn: Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm được đo đạc theo quy chuẩn quốc gia (10 TCN 558 - 2002) và IRRI về phản ứng của giống lúa mới Nông Lâm 7 trước 4 dải mật độ cấy (35, 40, 45, 50 khóm/m² với 1 dảnh/khóm). Kết quả phân tích phương sai chứng minh rõ: Khi tăng mật độ cấy, sự cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng làm giảm rõ rệt số nhánh tối đa, số nhánh hữu hiệu và chiều dài bông của cá thể, đồng thời rút ngắn nhẹ tổng thời gian sinh trưởng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Văn bản khóa luận cung cấp dừng lại ở Bảng 4.6 (chưa bao gồm toàn văn số liệu chi tiết của Bảng 4.7 về sâu bệnh hại và Bảng 4.8, 4.9 về năng suất thực thu cuối cùng).
  • Nghiên cứu chỉ được thực hiện trong phạm vi một năm duy nhất (năm 2013) tại một tiểu vùng sinh thái (Khu thực hành thực nghiệm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên).
  • Điều kiện thời tiết vụ mùa 2013 xuất hiện mưa lớn cực đoan và ngập úng kéo dài từ ngày 30/07 đến 04/08 làm ảnh hưởng nhất định đến tiến độ sinh trưởng tự nhiên của cây lúa.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá giống lúa Nông Lâm 7 qua nhiều vụ liên tiếp trên các chân đất và tiểu vùng sinh thái khác nhau của vùng Trung du miền núi phía Bắc để khẳng định tính ổn định di truyền.
  • Bố trí thí nghiệm nghiên cứu tương tác đa yếu tố, kết hợp giữa các dải mật độ cấy với các mức phân bón (đặc biệt là phân bón mức thấp và trung bình) nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất cho nông hộ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Khuyến nông: Là tài liệu tham khảo thực tế về quy trình thiết kế thí nghiệm đồng ruộng khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), phương pháp làm mạ khay, kỹ thuật điều tra động thái ra lá và đẻ nhánh theo ngày, cùng phương pháp phân tích phương sai bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.
  • Cán bộ kỹ thuật và khuyến nông viên: Cung cấp thông số hình thái cụ thể (chiều cao 110–118 cm, TGST 103–106 ngày, độ thoát cổ bông cấp 7) của giống Nông Lâm 7 phục vụ công tác bố trí cơ cấu thời vụ và xác định mật độ cấy 1 dảnh/khóm phù hợp tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu những mức mật độ cấy cụ thể nào cho giống lúa Nông Lâm 7? Thí nghiệm bố trí 4 công thức mật độ cấy cố định 1 dảnh cơ bản/khóm:

  • Công thức 1 (M1): 35 khóm/m²
  • Công thức 2 (M2): 40 khóm/m²
  • Công thức 3 (M3): 45 khóm/m²
  • Công thức 4 (M4): 50 khóm/m²

2. Tổng thời gian sinh trưởng của giống lúa Nông Lâm 7 trong hai vụ năm 2013 biến động ra sao? Thời gian sinh trưởng của giống Nông Lâm 7 thuộc nhóm ngắn ngày:

  • Vụ xuân: Dao động từ 103 ngày (công thức M4) đến 105 ngày (công thức M1 và M2).
  • Vụ mùa: Dao động từ 104 ngày (công thức M4) đến 106 ngày (công thức M1). Mật độ cấy dày (50 khóm/m²) làm rút ngắn thời gian sinh trưởng 1–2 ngày so với cấy thưa (35 khóm/m²).

3. Mật độ cấy ảnh hưởng như thế nào đến khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu của giống? Khả năng đẻ nhánh tỷ lệ nghịch với mật độ cấy. Khi mật độ tăng từ 35 lên 50 khóm/m², số nhánh tối đa giảm từ 9,6 xuống 8,6 nhánh/khóm (vụ xuân) và từ 9,1 xuống 8,3 nhánh/khóm (vụ mùa). Số nhánh hữu hiệu cao nhất luôn đạt được ở công thức cấy thưa M1 (5,0 nhánh ở vụ xuân và 4,9 nhánh ở vụ mùa), sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,01 so với các công thức cấy dày hơn.

4. Kỹ thuật làm mạ và nền phân bón được tác giả áp dụng trong thí nghiệm như thế nào? Tác giả áp dụng kỹ thuật gieo mạ khay nhựa (30 x 20 x 30 cm) trên nền hỗn hợp đất mịn và phân vi sinh tỷ lệ 7:3, xử lý hạt nước nóng 54°C (3 sôi 2 lạnh), ngâm 36 giờ (rửa chua định kỳ 8–10 giờ). Nền phân bón quy chuẩn cho 1 ha gồm: 8 tấn phân chuồng + 100 kg N + 90 kg P₂O₅ + 100 kg K₂O, chia làm 1 lần bón lót và 2 lần bón thúc (giai đoạn hồi xanh và đón đòng).

5. Đặc điểm chiều cao cây và độ thoát cổ bông của giống Nông Lâm 7 đạt mức độ nào? Chiều cao cây cuối cùng của giống đạt mức trung bình, dao động từ 110,4 đến 116,3 cm trong vụ xuân và 115,4 đến 117,9 cm trong vụ mùa. Độ thoát cổ bông ở tất cả các công thức thuộc cả hai vụ đều đạt điểm 7 theo thang đánh giá của IRRI (thoát một phần).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Thị Hạnh đã tiến hành khảo nghiệm thực nghiệm đồng ruộng nghiêm ngặt nhằm xác định phản ứng sinh trưởng của giống lúa thuần Nông Lâm 7 trước 4 mức mật độ cấy tại Thái Nguyên năm 2013. Kết quả chứng minh mật độ cấy ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian sinh trưởng, khả năng đẻ nhánh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu và kích thước bông lúa, trong đó mật độ thưa (35 khóm/m², cấy 1 dảnh) phát huy tối đa khả năng đẻ nhánh cá thể với 4,9–5,0 nhánh hữu hiệu/khóm. Công trình là tài liệu thực nghiệm có giá trị khoa học cho việc hoàn thiện gói kỹ thuật canh tác giống lúa Nông Lâm 7 tại vùng Trung du miền núi phía Bắc.