Tổng quan nghiên cứu

Lúa gạo đóng vai trò là nguồn lương thực thiết yếu nuôi sống hơn 40% dân số toàn cầu và trực tiếp chi phối sinh kế của 65% cư dân thế giới. Tại Việt Nam, ngành sản xuất lúa nước đã cung ứng lương thực cho hơn 90 triệu dân và hàng năm đóng góp từ 6,5 đến 6,88 triệu tấn gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi khí hậu, hiện tượng thu hẹp diện tích đất canh tác cùng áp lực gia tăng dân số đang đặt ra thách thức lớn đối với an ninh lương thực quốc gia. Tỉnh Nam Định là địa bàn trọng điểm về sản xuất lúa tại khu vực Đồng bằng sông Hồng với sản lượng ổn định xấp xỉ 1 triệu tấn/năm, đồng thời giữ vai trò tiên phong trong công tác khảo nghiệm và ứng dụng các tổ hợp lúa lai năng suất cao.

Vấn đề đặt ra là phần lớn các giống lúa lai nhập nội có giá thành hạt giống đắt đỏ, trong khi quy trình canh tác về mật độ và liều lượng phân bón tại địa phương chưa được tối ưu hóa, dẫn đến nguy cơ bùng phát sâu bệnh và suy giảm hiệu quả kinh tế. Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp của tác giả Trần Thị Bích Liên tập trung giải quyết bài toán xác định mật độ cấy và chế độ phân bón phù hợp cho giống lúa lai hai dòng Thiên trường 217 tại Nam Định.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2015 trên cả hai vụ Xuân và vụ Mùa tại Trung tâm Giống cây trồng Nam Định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc bổ sung dữ liệu sinh trưởng thực địa, xây dựng quy trình thâm canh chuẩn xác giúp giống lúa đạt năng suất trung bình từ 55 đến 70 tạ/ha, tiết kiệm 15% đến 20% chi phí phân bón hóa học và gia tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết ưu thế lai trong di truyền chọn giống thực vật được khởi xướng từ công trình của Jones năm 1926 và phát triển đột phá bởi Giáo sư Viên Long Bình năm 1964. Hệ thống lúa lai hai dòng dựa trên cơ chế di truyền bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) hoặc quang chu kỳ (PGMS), cho phép con lai F1 thể hiện tính đồng nhất cao, sức sống vượt trội và tiềm năng năng suất cao hơn lúa thuần từ 20% đến 30%.

Song song với đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu trúc quần thể tối ưu trong khoa học thâm canh lúa của các nhà khoa học nông nghiệp. Năng suất lúa được quyết định bởi phương trình tương tác giữa số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt. Dựa trên tính toán sinh lý học, cây lúa có khả năng chuyển hóa từ 2,5% đến 5% bức xạ mặt trời thành chất hữu cơ. Việc điều tiết mật độ cấy kết hợp phân bón đa lượng N-P-K theo tỷ lệ cân đối 1:1:1 tạo điều kiện cho bộ lá nhận tối đa quang năng, nâng cao khả năng đẻ nhánh hữu hiệu và hạn chế tối đa nguy cơ lốp đổ trên nền đất phù sa trũng.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo phương pháp ô phụ (Split-plot) với 3 lần nhắc lại, gồm 48 ô thí nghiệm riêng biệt có diện tích mỗi ô là 10 m2. Hai nhân tố khảo nghiệm chính bao gồm:

  • Nhân tố chính (Mật độ cấy): Gồm 4 mức M1 (30 khóm/m2), M2 (35 khóm/m2), M3 (40 khóm/m2) và M4 (45 khóm/m2).
  • Nhân tố phụ (Mức phân bón N-P-K): Gồm 4 công thức P1 (80N : 80P2O5 : 80K2O kg/ha), P2 (100N : 100P2O5 : 100K2O kg/ha), P3 (120N : 120P2O5 : 120K2O kg/ha) và P4 (140N : 140P2O5 : 140K2O kg/ha).

Vật liệu nghiên cứu là tổ hợp lúa lai hai dòng F1 Thiên trường 217, được tạo bởi dòng mẹ bất dục nhiệt quang TGMS 21S và dòng bố phục hồi R7.7 do Trung tâm Giống cây trồng Nam Định lai tạo. Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nghiêm ngặt theo quy chuẩn đánh giá của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI năm 2002. Mỗi công thức đánh dấu cố định 20 cây và theo dõi chi tiết 10 khóm định kỳ 7 ngày/lần về động thái đẻ nhánh, tăng trưởng chiều cao và số lá thân chính. Tất cả số liệu thực nghiệm được thu thập, kiểm định ANOVA và xử lý thống kê sinh học qua phần mềm chuyên dụng IRRISTAT phiên bản 5.0 nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học ở mức ý nghĩa 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình theo dõi thực nghiệm trên đồng ruộng Nam Định năm 2015 đã làm sáng tỏ các chỉ số nông sinh học và năng suất quan trọng của giống lúa Thiên trường 217:

Thứ nhất, thời gian sinh trưởng của giống lúa Thiên trường 217 thuộc nhóm ngắn ngày, đạt 123 - 125 ngày trong vụ Xuân và 110 - 115 ngày trong vụ Mùa. Mật độ cấy và mức phân bón khác nhau không làm thay đổi tổng số lá trên thân chính, duy trì ổn định ở mức 15,1 - 15,6 lá trong vụ Xuân và 15,1 - 15,5 lá trong vụ Mùa.

Thứ hai, mật độ cấy có tác động tỷ lệ nghịch với khả năng phân hóa chồi nhánh. Khi mật độ tăng từ 30 khóm/m2 lên 45 khóm/m2, số nhánh đẻ trên mỗi khóm giảm rõ rệt từ 5,8 nhánh xuống còn 3,6 nhánh/khóm. Trong khi đó, việc tăng lượng phân bón từ mức P1 lên P3 giúp cây đạt chiều cao cuối cùng từ 100 cm đến 105 cm và tăng số nhánh hữu hiệu, nhưng khi tăng đến ngưỡng P4 (140 kg NPK) thì tỷ lệ nhánh vô hiệu tăng thêm 8,5% và cây có hiện tượng vống mềm.

Thứ ba, giống lúa thể hiện mức độ nhiễm sâu bệnh hại ở ngưỡng an toàn với điểm hại từ 1 đến 3 đối với rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân và bệnh đạo ôn. Tuy nhiên, ở mật độ dày M4 kết hợp phân bón cao P4, tỷ lệ bệnh khô vằn và bạc lá tăng cao hơn từ 12% đến 15% so với mật độ thưa.

Thứ tư, công thức kết hợp giữa mật độ M3 (40 khóm/m2) và mức phân bón P1 (80 kg N : 80 kg P2O5 : 80 kg K2O) xác lập cấu trúc năng suất tối ưu. Năng suất thực thu vụ Xuân đạt đỉnh từ 65 đến 70 tạ/ha và vụ Mùa đạt từ 55 đến 60 tạ/ha, trọng lượng 1000 hạt đạt 23 gam với tỷ lệ hạt chắc trên bông vượt trên 82%.

Thảo luận kết quả

Các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng trên nền đất phù sa chiêm trũng tại xã Trình Xuyên, huyện Vụ Bản, việc lạm dụng phân bón vô cơ không mang lại sự gia tăng tuyến tính về năng suất hạt. Dữ liệu thí nghiệm có thể được mô hình hóa trực quan thông qua đồ thị động thái tăng trưởng chiều cao và biểu đồ cột so sánh số bông hữu hiệu/m2 giữa 16 công thức xử lý. Biểu đồ chỉ ra điểm uốn sinh lý khi lượng đạm vượt quá 100 kg N/ha, diện tích lá phát triển quá mức gây che khuất ánh sáng nội tán, làm giảm 6% hiệu suất quang hợp tích lũy chất khô về bông.

So sánh với các nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam trên các giống lúa lai hai dòng như Bồi Tạp Sơn Thanh hay các tổ hợp dòng AMS, Thiên trường 217 có khả năng chống đổ ngã tốt hơn và tiết kiệm phân đạm khoảng 25% nhờ sự tương thích di truyền từ tổ hợp 21S/R7.7. Việc xác định mức phân bón P1 kết hợp mật độ 40 khóm/m2 không chỉ bảo đảm số bông hữu hiệu đạt từ 280 đến 320 bông/m2 mà còn tối ưu hóa chi phí sản xuất, hạn chế dư lượng nitrat trong đất và giảm đáng kể áp lực thuốc bảo vệ thực vật.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ trên các bằng chứng khoa học thu được, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm chuyển giao vào thực tế sản xuất:

Thứ nhất, chuẩn hóa mật độ gieo cấy ở mức 40 khóm/m2 đối với giống lúa Thiên trường 217 tại các chân đất vàn và vàn trũng tỉnh Nam Định, duy trì khoảng cách cấy 20 cm x 12,5 cm với 1 - 2 dảnh cơ bản/khóm để đạt mục tiêu 300 bông hữu hiệu/m2. Cơ quan thực hiện: Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng hệ thống khuyến nông cơ sở trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ hai, áp dụng quy trình bón phân N-P-K cân đối tỷ lệ 1:1:1 với tổng lượng 80 kg N : 80 kg P2O5 : 80 kg K2O cho mỗi hecta. Thực hiện bón lót toàn bộ lân kết hợp 40% đạm và 30% kali; bón thúc đẻ nhánh sớm 45% đạm; bón đón đòng từ 15 đến 18 ngày trước trổ với 15% đạm và 40% kali còn lại nhằm tăng độ mẩy hạt. Chủ thể thực hiện: Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và bà con nông dân.

Thứ ba, triển khai kỹ thuật quản lý nước ngập - khô xen kẽ, chủ động rút nước phơi ruộng nẻ chân chim khi lúa đạt từ 320 đến 350 dảnh/m2 để khống chế dảnh vô hiệu, tăng cường oxy cho bộ rễ ăn sâu và tăng khả năng chống đổ. Thời gian hoàn thành: Áp dụng thường niên trong các kỳ chăm sóc vụ Xuân và vụ Mùa.

Thứ tư, hoàn thiện hồ sơ khảo nghiệm sản xuất để Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định đưa Thiên trường 217 vào cơ cấu giống chủ lực, phấn đấu mở rộng diện tích gieo cấy lên 15.000 đến 20.000 ha vào năm 2025, thay thế từng bước các giống lúa lai nhập nội có chi phí hạt giống cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và hệ thống khuyến nông viên các cấp: Cung cấp tài liệu định lượng để xây dựng sổ tay hướng dẫn kỹ thuật gieo cấy, tập huấn chuyển giao biện pháp thâm canh lúa lai hai dòng cho nông dân khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Thứ hai, các nhà khoa học, chuyên gia chọn tạo giống và học viên sau đại học chuyên ngành Khoa học cây trồng: Cung cấp cơ sở dữ liệu về tính tương tác giữa mật độ - dinh dưỡng trên nguồn vật liệu bố mẹ TGMS 21S và R7.7, đồng thời là mẫu đối chiếu chuẩn xác về phương pháp bố trí thí nghiệm Split-plot và kỹ thuật phân tích thống kê nông học.

Thứ ba, ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp và các chủ trang trại canh tác lúa quy mô lớn: Giúp xây dựng phương án tiết giảm từ 15% đến 20% chi phí phân bón vô cơ, kiểm soát mật độ gieo cấy hợp lý nhằm hạn chế sâu bệnh, gia tăng biên lợi nhuận ròng trên mỗi hecta đất canh tác.

Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương: Cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc để phê duyệt quy hoạch cơ cấu giống lúa ngắn ngày, phục vụ chiến lược chuyển đổi mùa vụ và nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2020 - 2030.

Câu hỏi thường gặp

Giống lúa lai hai dòng Thiên trường 217 có nguồn gốc và ưu điểm nổi bật gì?

Thiên trường 217 là tổ hợp lúa lai hai dòng F1 được lai tạo giữa dòng mẹ TGMS 21S và dòng bố phục hồi R7.7 do Trung tâm Giống cây trồng Nam Định phát triển. Giống sở hữu thời gian sinh trưởng ngắn từ 110 đến 125 ngày, chiều cao 100 - 105 cm, khả năng đẻ nhánh gọn, hạt dài sáng, chất lượng gạo thơm đậm tương đương Bắc thơm số 7 và có khả năng chịu rét, chống đổ rất tốt.

Mật độ cấy nào mang lại năng suất tối ưu cho Thiên trường 217 tại Nam Định?

Kết quả nghiên cứu thực địa khẳng định mật độ 40 khóm/m2 là mật độ thích hợp nhất cho cả vụ Xuân và vụ Mùa. Mật độ này cân bằng tối ưu giữa số lượng khóm trên đơn vị diện tích và khả năng phát triển chồi nhánh hữu hiệu, giúp ruộng lúa thông thoáng, giảm thiểu sâu bệnh hại và đạt năng suất thực thu tối đa từ 55 đến 70 tạ/ha.

Công thức phân bón khuyến nghị cho giống Thiên trường 217 gồm tỷ lệ và liều lượng nào?

Công thức phân bón đem lại hiệu quả sinh học và kinh tế cao nhất là P1 với tỷ lệ N-P-K cân đối 1:1:1, tương ứng 80 kg N : 80 kg P2O5 : 80 kg K2O trên 1 ha. Việc tăng lượng phân bón lên 120 - 140 kg NPK/ha không làm tăng năng suất đáng kể mà còn làm tăng nguy cơ lốp đổ, nhiễm bệnh khô vằn và gia tăng chi phí sản xuất.

Thời gian sinh trưởng và tuổi mạ của Thiên trường 217 biến động ra sao giữa hai vụ?

Trong vụ Xuân, thời gian sinh trưởng của giống kéo dài từ 123 đến 125 ngày với tuổi mạ khi cấy đạt 30 ngày do điều kiện nhiệt độ thấp kéo dài. Trong vụ Mùa, với nền nhiệt độ cao và điều kiện thuận lợi, thời gian sinh trưởng rút ngắn còn 110 đến 115 ngày và tuổi mạ chỉ cần 18 ngày là đủ tiêu chuẩn đưa ra ruộng cấy.

Khả năng chống chịu sâu bệnh hại của giống lúa Thiên trường 217 trên đồng ruộng như thế nào?

Giống Thiên trường 217 có mức độ kháng sâu bệnh khá tốt, với điểm nhiễm chỉ ở mức nhẹ từ điểm 1 đến điểm 3 đối với rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá và bệnh đạo ôn. Giống chỉ nhiễm nhẹ bệnh bạc lá trong vụ Mùa và bệnh khô vằn khi canh tác ở mật độ quá dày (45 khóm/m2) kết hợp bón thừa đạm.

Kết luận

  • Đề tài đã làm rõ đặc điểm nông sinh học của giống lúa lai hai dòng Thiên trường 217 với thời gian sinh trưởng 123 - 125 ngày (vụ Xuân) và 110 - 115 ngày (vụ Mùa), chiều cao cây 100 - 105 cm, khả năng đẻ nhánh tập trung và số lá ổn định 15,1 - 15,6 lá.
  • Xác định mật độ cấy chuẩn xác 40 khóm/m2 kết hợp mức phân bón cân đối 80 kg N : 80 kg P2O5 : 80 kg K2O/ha là công thức tối ưu, giúp đạt năng suất vụ Xuân 65 - 70 tạ/ha và vụ Mùa 55 - 60 tạ/ha.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm chứng minh bón phân quá ngưỡng 100 kg N/ha gây lãng phí kinh tế, tăng tỷ lệ nhánh vô hiệu thêm 8,5% và gia tăng áp lực dịch bệnh.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện quy trình canh tác lúa lai hai dòng tự sản xuất trong nước tại vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ.
  • Lộ trình tiếp theo hướng tới mở rộng mô hình trình diễn trên quy mô 500 - 1.000 ha tại các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Vụ Bản và chuẩn hóa tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trong giai đoạn 2016 - 2020. Hãy liên hệ với các trung tâm khuyến nông địa phương và đơn vị nghiên cứu giống cây trồng để tiếp cận quy trình canh tác chi tiết, nhằm tối ưu hóa năng suất và lợi nhuận kinh tế cho vụ mùa tới.