Đặt vấn đề Ngày nay, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng tăng thì vấn đề về tiêu dùng thực phẩm an toàn cũng tăng theo. Đặc biệt là các loại rau xanh – đây là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của mỗi chúng ta. Theo Cục vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ có khoảng 14% rau xanh có mặt trên thị trường được coi là rau an toàn. Việc sử dụng rau không an toàn sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng, tăng chi phí cho điều trị, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ khác (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2012).
Người tiêu dùng luôn mong muốn được sử dụng những sản phẩm rau sạch, có nguồn gốc rõ ràng ít sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng để đảm bảo sức khỏe tốt. Tuy nhiên, việc ứng dụng ồ ạt, thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về hóa học nông nghiệp đã làm tăng dư lượng hóa chất cho các sản phẩm rau xanh, từ đó có thể gây ngộ cho người tiêu dùng (Ngô Thị Thuận, 2010). Để nâng cao năng suất cây trồng, nhiều người sản xuất đã lạm dụng quá mức phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng gây nên những ảnh hưởng xấu đến đất đai, cây trồng, môi trường và con người. Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao.
Trong quá trình sử dụng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể dính bám chặt vào lá, hoa quả, đi vào trong thân cây. Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc ở các cấp độ khác nhau (Bạch Thái Toàn, 2008). Khi bón quá nhiều, liên tục phân hóa học dễ dẫn đến đất bị chua hóa, bạc màu làm giảm năng suất cho vụ sau (Trương Hợp Tác, 2009). Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995).
Trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nước uống 1 tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3- xuống nước ngầm. Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng (Lê Thị Hiền Thảo, 2003).Vì thế việc sử dụng phân hữu cơ bổ sung hay thay thế phân hóa học là hướng lựa chọn được nhiều người hướng đến. Phân trùn quế là chất được thu hoạch từ con trùn quế (còn gọi là giun quế hay giun đỏ) khi ăn chất hữu cơ. Phân trùn quế chứa hỗn hợp vi sinh có hoạt tính cao, là chất xúc tác sinh học có rất nhiều chất dinh dưỡng, dễ hòa tan trong nước, chứa hơn 50% chất mùn.
Do đó, phân trùn quế không chỉ kích thích sinh trưởng cho cây trồng mà còn tăng khả năng cải tạo đất và ngăn ngừa các bệnh về rễ. Phân gà có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn nhiều loại phân chuồng khác. Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong phân gà như N: 1,6 – 1,7%; P2O5: 0,5 – 0,6%; K2O: 0,85%; CaO: 2,4%. Chính vì vậy, phân gà được sử dụng bón rất hiệu quả trên nhiều loại cây trồng khác nhau, trong đó có nhóm cây rau (Dương Hoa Xô, 2005).
Phân gà khi được xử lý bằng chế phẩm từ trùn quế đã hoai mục, không tạo mùi hôi thối, với lợi thế giàu dinh dưỡng sẽ giúp cây trồng hấp thu thuận lợi. Rau hữu cơ là loại rau được trồng trọt canh tác theo tiêu chí “05 không”. Không sử dụng phân bón hóa học, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tổng hợp và thuốc diệt cỏ, không sử dụng giống biến đổi gen (GMO), không sử dụng thuốc kích thích tăng trưởng và không sử dụng chất bảo quản thực phẩm (Viện nghiên cứu Rau Quả). Địa điểm sản xuất rau phải nằm trong vùng sản xuất an toàn theo các giới hạn của cơ quan cấp chứng nhận hữu cơ đặt ra.
Trong đó, tập trung vào đánh giá chất lượng đất và nước không bị nhiễm hóa chất độc hại, kim loại nặng… Địa điểm sản xuất rau không nằm trong vùng chiêm trũng, có khả năng ngập lụt, không nằm trong các khu công nghiệp. Chưa có kết quả nghiên cứu cụ thể xác định liều lượng phân trùn quế và 2 phân gà ủ hoai mục phù hợp cho sản xuất dưa chuột và cải xanh theo canh tác hữu cơ. Vì vậy đề tài ‘Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng dưa chuột và cải xanh canh tác hữu cơ tại Gia Lâm – Hà Nội’ đã được thực hiện. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Xác định công thức phối trộn phân trùn quế và phân gà ủ hoai mục với đất và trấu hun phù hợp để trồng rau cải xanh và dưa chuột theo canh tác hữu cơ tại Gia Lâm – Hà Nội. Yêu cầu Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (số lá, chiều cao cây), dõi các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, ra hoa đậu quả khi bón phân trùn quế và phân gà ủ hoai mục với các mức khác nhau. Theo dõi yếu tố cấu thành năng suất và năng suất như số quả/cây, khối lượng quả, năng suất cá thể khi bón phân trùn quế và phân gà với các mức khác nhau. Đánh giá một số chỉ tiêu về chất lượng như độ giòn, độ ngọt, độ brix, màu sắc, hương thơm… Theo dõi mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính như sâu xanh, sâu tơ, bệnh lở cổ rễ, tuyến trùng,… 3 Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nông nghiệp hữu cơ 2. Một số khái niệm Hiện nay có nhiều tài liệu đưa ra các khái niệm về nông nghiệp hữu cơ khác nhau nhưng đều được thống nhất rằng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp sinh học đều là một. Tóm lại, có thể hiểu: Nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất nông nghiệp dưa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên. Nói một cách khác phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất mà trong đó các quy trình sản xuất đều theo quy luật sinh học tự nhiên vốn có.
Nông nghiệp hữu cơ theo định nghĩa của Liên Hợp quốc, là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi. Trong nông nghiệp hữu cơ, nông dân hạn chế sử dụng phân bón hóa học và các chất kích thích sinh trưởng, không sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật hoặc thuốc diệt cỏ…nông nghiệp hữu cơ cũng không sử dụng các chế phẩm biến đổi gen. Theo IFOAM (2007) nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất bền vững với sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Hệ thống dưa trên những tiến trình sinh thái, sự đa dạng sinh học và những chu kỳ thích nghi với điều kiện địa phương hơn là việc sử dụng những đầu vào có tác động trái ngược.
Nông nghiệp hữu cơ kết hợp truyền thống, sự hiện đại và khoa học để chia sẻ với môi trường, thúc đẩy những quan hệ công bằng và tạo chất lượng tốt cho cuộc sống và những gì liên quan. Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005): sản xuất hữu cơ là biện pháp trồng trọt không sử dụng hóa chất như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích sinh trưởng. Canh tác hữu cơ là đỉnh cao của sự 4 phát triển nông nghiệp bền vững để tạo ra những sản phẩm chất lượng cao như các loại sản phẩm rau quả “siêu sạch”, đảm bảo cân bằng sinh thái , bảo về môi trường và cộng đồng. Các loại phụ phẩm nông nghiệp có thể tận dụng để ngâm ủ, bổ sung hàm lượng mùn, đạm hữu cơ cho cây trồng như cỏ rác, rơm mùn, bã đậu, xác tôm cá,… 2.
Các nguyên tắc cơ bản của nông nghiệp hữu cơ Mục đích hàng đầu của nông nghiệp hữu cơ là tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch, sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp thân thiện với môi trường, nâng cao tối đa sức khỏe và năng suất của đất đai, cây trồng, vật nuôi và con người. Người nông dân canh tác theo nông nghiệp hữu cơ dựa tối đa vào việc quay vòng mùa vụ, các phần dư thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canh tác cơ giới để duy trì chất lượng đất nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, và kiểm soát cỏ dại, côn trùng và các loại sâu hại khác. Vì vậy cần có các tiêu chuẩn, nguyên tắc rõ ràng để đánh giá phẩm chất của sản phẩm nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Theo tổ chức nông nghiệp hữu cơ thế giới IFOAM: “Vai trò của nông nghiệp hữu cơ, dù cho trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng, là nhằm mục đích duy trì sức khỏe của hệ sinh thái và các sinh vật từ các sinh vật có kích thước nhỏ nhất sống trong đất đến con người”.
Canh tác hữu cơ hiện nay vẫn đang là vấn đề mới ở Việt Nam. Sản phẩm hữu cơ vẫn chưa có một vị trí vững chắc trên thị trường. Cho nên để sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được người tiêu dùng chấp nhận thì Việt Nam phải nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn của riêng mình nhằm kiểm soát việc sản xuất cũng như bảo quản sản phẩm hữu cơ như các nước trong khu vực đã làm; để người sản xuất có cơ sở triển khai sản xuất đồng thời giúp sản phẩm của họ được người tiêu dùng chấp nhận, từ đó kích thích thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam. (Tổng Khiêm, 2009) 5 Rau, quả hữu cơ đang trở thành một thị trường hấp dẫn nhờ mối quan tâm ngày càng lớn của người tiêu dùng đối với sức khỏe của chính họ và bảo vệ môi trường.
Phân khúc này phát triển mạnh ở các nước có mức sống cao, nhưng tỷ lệ người tiêu dùng sản phẩm hữu cơ đang tăng nhanh tại châu Á. Theo ước tính của các công ty nghiên cứu thị trường lớn trên thế giới, tỷ trọng sản phẩm hữu cơ trong tổng sản lượng mua hàng đạt khoảng 2% ở Úc và 5% ở Hà Lan đến 9% ở Mỹ và 15% ở Thụy Điển. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau hữu trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ trên thế giới Trong cơ cấu cây trồng, cây rau là một trong những loại cây trồng mang lại nhiều giá trị kinh tế.
Giá trị xuất khẩu của ngành rau hoa quả hàng năm đem lại hàng tỉ đô la cho nền kinh tế nhiều quốc gia.