MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài - Công ty nông nghiệp là một hinh tồn tại từ lâu, đã và đang phát triển ở hết các nước trên thế giới. Đổi mới nông nghiệp từ năm 1980 (từ khi có chỉ thị 100 của ban bí thư Trung ương Đảng), nhưng phải tới năm đầu của thập kỷ 90 mới thực hiện khá là mạnh mẽ, lúc này kinh tế nông hộ đã xuất hiện như là một sự tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp đổi mới. - Xu hướng chung của cả nước cũng như trên thế giới là các sản phẩm nông ghiệp hữu cơ.
Không nằm ngoài xu hướng tất yếu đó CTY chè hữu cơ NTEA Thái Nguyên cũng đang trồng, chăm sóc, sản xuất,chế biến, kinh doang sản phẩm về trà hữu cơ phục vụ nhu cầu thị thường , sản phẩm của cty đã được người tiêu dung tin dùng và trong thời gian qua hoạt đọng của công ty đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì cong nhiều khó khăn và hạn chế như hữu cơ năng xuất khá là thấp, diện tích trồng chưa thực lớn so với trè thông thường -Với những kiến thức được học trên ghế nhà trường và được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo và sự giúp đỡ của anh chị trong CTY. - Xuất phát từ thực trạng trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và kinh doanh chè hữu cơ của công ty ntea, trên địa bàn xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Đánh giá được đầy đủ, chính xác hiệu qua trong sản xuất và kinh doanh chè của HTX Tâm Trà Thái. Qua đó nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả phát triển sản xuất chè và nâng cao hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh tại cty NTEA trên địa bàn xã Hóa Thượng - huyên Đồng Hỷ - tỉnh Thaí Nuyên 1. Mục tiêu cụ thể - Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng chè hữu cơ. 2 - Phân tích lợi nhuận, giá trị kinh tế của sản phẩm đem lại thông qua số liệu hàng năm của cyt cổ phần NTEA.
- Đưa ra các giải pháp, cách thức phù hợp để nâng cao sản lượng và giá trị chè hữu cơ. - Hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và thực tiễn của tình hình hoạt động của Cty cổ phần chè hữu cơ NTEA. - Đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh chè hữu của CTY trè hữu cơ NTEA hiện nay trên địa bàn xã Hóa Thượng - Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy CTY hoạt động có hiệu quả hơn. Ý nghĩa trong học tập và nghiêm cứu Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về phát triển sản xuất, kinh doanh chè tại cty chè hữu cơ NTEA.
Giúp bản thân sinh viên vận dụng kiến thức đã được học vào thực tiễn thực tập. Ý nghĩa trong thực tiễn - Cung cấp các thông tin và kiến thức về một nền nông nghiệp hữu cơ - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan, cung cấp các thông tin về sản xuất chè hữu sạch, khắc phục những tồn tại yếu kém trong việc sản xuất chè hữu sạch an toàn. - Cung cấp thông tin về những giải pháp cụ thể thực tiễn trong việc cải tạo môi trường đất, nước, không khí… để làm sao tránh ảnh hưởng đến môi trường xung quanh một cách đáng kể nhất trong quá trình sản xuất 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Là hoạt động sản xuất và kinh doanh dịch vụ của CTY trè hữu cơ NTEA.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi không gian: công ty chè hữu NTEA xã Hóa Thượng- Huyện Đồng Hỷ-Tỉnh Thái Nguyên 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cở sở khoa học 2. Quan niệm về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và an toàn 2. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ - Cho thời điểm hiện tại, đã có khá nhiều tài liệu đưa ra khái niệm về nông nghiệp hữu cơ.
Về cơ bản, các tài liệu đều thống nhất rằng, khái niệm nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp sinh học là một. Đến nay có thể hiểu là khái niệm về nền nông nghiệp hữu cơ theo hai cách sau: -Nông nghiệp hữu cơ dựa trên cơ sở giảm thiểu tối đa các đầu tư từ bên ngoài nhằm làm giảm ô nhiễm không khí, đất và ô nhiễm nước, không sử dụng các chất tổng hợp như phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu hoá học. Những người sản xuất, chế biến và lưu thông các sản phẩm hữu cơ được gắn nhãn mác với các tiêu chuẩn của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Mục đích chính của nông nghiệp hữu cơ là tối ưu hoá tính bền vững và sức sản xuất của các hệ thống sinh thái có quan hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau như: Đất, cây trồng, động vật và con người”.
“Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống đồng bộ hướng tới việc thực hiện các quá trình sản xuất với kết quả là bảo đảm hệ sinh thái bền vững, an toàn thực phẩm, chất lượng tốt, đối xử công bằng và chăm sóc chu đáo cây trồng và vật nuôi; là hệ thống sản xuất không sử dụng các hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng phi hữu cơ, tạo điều kiện cho sự chuyển hoá khép kín trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng các nguồn hiện có trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy trình sản xuất. Vậy nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất toàn diện nhằm tăng cường và hỗ trợ gìn giữ bền vững hệ sinh thái, bao gồm các vòng tuần hoàn và chu kỳ sinh học trong đất.”[1] -Nói một cách khác, phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất mà trong đó các quá trình sản xuất đều tuân theo quy luật sinh học tự nhiên vốn có. Suy ra nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên [1] 4 - Nông nghiệp hữu cơ là “nền nông nghiệp hoàn toàn không có chất hoá học”, mà nó còn đầy đủ các khía cạnh sinh thái học, xã hội và kinh tế bền vững. Vì vậy là một dạng sản xuất bền vững của ngành nông nghiệp.
Từ đó có nghĩa rằng, nông nghiệp hữu cơ là phương thức duy trì sự cân bằng hệ sinh thái trong hệ thống canh tác và sử dụng nguồn tài nguyên vốn có theo cách hợp lý và bền vững với một sự chú ý đặc biệt về khía cạnh kinh tế - xã hội của sản xuất nông nghiệp. Tái tạo lại chu trình dinh dưỡng, sử dụng một cách tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có của tự nhiên, đa dạng hoá là các khía cạnh quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Các đặc điểm kinh tế - xã hội như: An ninh lương thực, thương mại công bằng, tăng cường nguồn lực… cũng là những khía cạnh rất quan trọng là của nông nghiệp hữu cơ.[2] - Nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm riêng như sau: + Sản xuất nông nghiệp theo cách thức tự nhiên của hệ thống sinh thái tự nhiên.Đất đai,cây trồng, vật nuôi và con người là toàn bộ các mặt trong một thể thống nhất chung, nó như một thể hữu cơ. + Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là hoạt động kinh tế phải hài hoà với thiên nhiên.
Vì nếu các hoạt động này nằm chệch hướng vận động của các quy luật tự nhiên thì sẽ tạo ra những hệ vô cùng quả xấu và tất yếu phát triển sẽ không theo chiều hướng bền vững. Sản xuất sẽ phát triển tốt trên cơ sở sử dụng và tăng cường độ phì nhiêu của đất cũng như làm tăng sức đề kháng của cây trồng và vật nuôi đối với sâu bệnh hại. + Chăn nuôi là một hợp phần thích ứng quan trọng của sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Hệ thống không bị ảnh hưởng của việc sử dụng các nguồn lạ từ ngoài nông trại như: Phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật.
-Nông nghiệp hữu có có những ưu điểm cơ bản sau: +Cách thức sản xuất của nông nghiệp hữu cơ không gây ô nhiễm môi trường nước, không khívà đất. Nông nghiệp hữu cơ tuyệt đối không sử dụng phân bón vô cơ như: Đạm, kali, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng cho cây hoặc vật nuôi có nguồn gốc vô cơ, thức ăn chăn nuôi chứa nhiều chất kích thích… +Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ an toàn và không gây hại cho người sử dụng vì đã được sản xuất trong điều kiện gần với tự nhiên nhất nên cây trồng và vật nuôi 5 phát triển theo quy luật tự nhiên vốn có của nó, an toàn cho sức khỏe của cả người sản xuất cung như người người tiêu dùng. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đa dạng, khai thác tối đa nguồn gen tốt của bản địa, sử dụng tối đa các yếu tố kỹ thuật tự nhiên, sẽ làm cho cảnh quan sinh động, đa dạng và đẹp hơn. -Những hạn chế của nông nghiệp hữu cơ +Năng suất cây con giảm hơn so với phương pháp nông nghiệp thâm canh.
Khi bắt đầu chuyển từ nông nghiệp thâm canh sang nông nghiệp hữu cơ năng suất giảm từ 25 –40%. Nhưng, sau vài năm năng suất sẽ tăng dần lên nhưng cũng khó có thể đạt bằng của sản xuất bằng phương pháp nông nghiệp thâm canh. +Trong trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ phụ thuộc rất lớn vào đất và thời tiết khí hậu. Vì cơ sở sinh trưởng của cây trồng trong nông nghiệp hữu cơ là đất, độ phì của đất sẽ quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, nông nghiệp hữu cơ gần với tự nhiên, nên sự biến đổi khí hậu không theo quy luật sẽ ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. +Sản xuất nông nghiệp hữu cần quan tâm để trong phòng chống sâu bệnh và dịch bệnh. Vì nông nghiệp hữu cơ quan tâm đến phòng sâu bệnh hại, dịch bệnh là chính mà ít quan tâm đến trị bệnh. Vì thế có thể có một số loại sâu bệnh không thể trừ, trị được.
Mẫu mã một số sản phẩm có thể không đẹp như của nông nghiệp thâm canh[2]. Quản lý dịch hại tổng hợp IPM -Trong sản xuất chè, người trồng chè luôn mong muốn nương chè của mình phát triển tốt, ít sâu bệnh, năng suất cao, thu được nhiều lợi nhuận. Nhưng điều mong muốn chính đáng ấy không phải lúc nào cũng trở thành hiện thực.