Chương I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về cây chè 1. Về nguồn gốc cây chè Việt Nam Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía Bắc. Cây chè Suối Giàng trong sách “Vân Đài loại ngữ” có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: “. Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon.
Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên. Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ. “Hàng ngày, những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp cho Hoàng đế Trung Hoa.
Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả". Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang, Việt Nam (1923) và Tây Nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết ".những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam.
Năm 1976, Luan van 6 Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An. Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam. Từ đó, có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới như sau "Chi Camelli → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc →Chè Assam (Ấn Độ)". Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: Cây chè xuất hiện đầu tiên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 950 đến 1200 Đông, trục Bắc Nam từ vĩ độ 290 đến 110 Bắc.
Sự phát triển của cây Chè Việt Nam Thời kỳ trước năm 1882: Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình: Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè đồng bằng sông Hồng ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An. Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà. Thời kỳ 1882-1945: Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại.
Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm. Thời kỳ độc lập (1945- nay): Sau năm 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô - Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc.
Luan van 7 Đến hết năm 2015, tổng diện tích chè là 108.000 ha chè kinh doanh. Tổng số lượng chè sản xuất 1924.5 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu 329. Các vùng chè Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông Nam Á, cái nôi của cây chè. Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè.
Lượng nước mưa dồi dào 1700-2000mm/năm, nhiệt độ 21-22,60C, ẩm độ không khí 80-85%. Đất đai trồngchè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ. Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.50, chia thành 3 vùng: vùng thấp dưới 300m, vùng giữa 300- 600m, vùng cao 600 đến trên 1000m, nên chất lượng chè rất tốt. Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung du và Shan, làm được chè xanh và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng.
Ngoài ra, còn những giống chè tốt làm chè đen, chè xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Ấn Độ và Srilanka, Inđônêxia. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới Tổng sản lượng chè khô thế giới năm 2019 đạt gần 1. Hiện nay, có 39 nước trồng và chế biến chè nằm ở khắp các châu lục.
Những nước có sản lượng chè lớn trên thế giới là Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kênya. Việt Nam hiện đứng hàng thứ 8 về diện tích, thứ 5 về xuất khẩu trong số các nước sản xuất chè. Châu Âu, Trung Cận Đông là những nơi tiêu thụ chè nhiều nhất thế giới, nhưng lại sản xuất rất ít vì điều kiện khí hậu, đất đai không thích hợp với việc trồng chè. Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và sự tuyên truyền, quảng cáo của FAO về lợi ích của việc uống chè đối với sức khoẻ, đã đặt ra một cách nhìn mới đối với chè trên toàn thế giới nhất là ở các nước phát Luan van 8 triển.
Vì thế nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm chè an toàn, chè hữu cơ có chất lượng ngày càng cao. Chè hữu cơ xuất hiện đầu tiên tại thị trường Anh năm 1989 với những nhãn hiệu “Natureland” nhu cầu chè hữu cơ mỗi năm tăng 25% và dự đoán là tăng 50% tổng sản lượng chè thế giới vào đầu thế kỷ 21. Hiện nay, sản lượng chè hữu cơ trên thế giới khoảng trên 6800 tấn khô, được tiêu thụ chủ yếu ở các thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU và một số nước phát triển khác với giá bán cao hơn các loại chè thườ ng từ 2 - 4 lần. Các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanka, Trung Quốc… là những nước đang tích cực phát triển chè hữu cơ.
Tại Ấn Độ, Công ty Bombay Burmah đã nghiên cứu sản xuất chè hữu cơ từ năm 1988 tại đồn điền Oothu, trong quá trình canh tác không dùng bất cứ loại phân hoá học, thuốc trừ sâu, trừ cỏ và chất kích thích nào. Tại Nhật Bản, chè được trồng tại các vùng núi cao như: Kanaguwa, Shiga, Migazaki, Shizuoka. Nhật Bản sản xuất chè an toàn dựa trên sự đồng bộ về các giải pháp kỹ thuật như: Cơ giới hoá, giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thu hoạch và bảo quản chế biến nhằm giảm thiểu dư lượng thuốc trừ sâu, kim loại nặng trong sản phẩm chè. Tại Srilanka mỗi năm sản xuất trên 200 tấn chè hữu cơ.
Tại Trung Quốc từ những năm thập kỷ 90 đã bắt đầu chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ, đến nay đã có trên 7000 ha tập trung ở Triết Giang, Giang Tây, An Huy, Hổ Bắc… với tổng sản lượng trên 4000 tấn xuất khẩu chủ yếu sang Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu. Nhằm khuyến khích sản xuất, xuất khẩu chè hữu cơ, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành pháp lệnh về tiêu chuẩn chè hữu cơ và có những chính sách khuyến khích như: Hỗ trợ vay vốn, bù giá những năm đầu, giảm thuế… Trung Quốc đã xây dựng một số tiêu chuẩn kim loại nặng, dư lượng thuốc trừ sâu trong sản phẩm chè và trong đất như sau (Bảng 1. Luan van 9 Bảng 1.1: Tiêu chuẩn cho phép trong sản phẩm chè và đất chè của Trung Quốc Tên kim loại nặng và Tiêu chuẩn trong sản Tiêu chuẩn trong đất thuốc trừ sâu phẩm chè (Mg/kg) chè (Mg/kg) Cu < 30 < 50 Pb <2 < 35 Cd - < 0,2 Hg - < 0,15 As - < 15 Cr - < 90 Thuốc trừ sâu Không có Không có (Nguồn: Công ty Liên kết Sinh thái Việt Nam-Ecolink, 2005) Các nước nhập khẩu chè ngoài việc xem xét dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên sản phẩm chè còn đặc biệt coi trọng hàm lượng chì cho phép, tuỳ theo mỗi quốc gia mà hàm lượng này có thể giao động từ 2 - 20 mg/kg sản phẩm. Để xây dựng vùng chè hữu cơ, chè an toàn các nước trên rất coi trọng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm bắt đầu từ nước, không khí, hàm lượng kim loại nặng trong đất, trong sản phẩm chè….
Từ đó chú trọng thành lập các nhà máy chuyên sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu sinh học… phục vụ sản xuất chè hữu cơ. Thành lập các cơ quan nghiên cứu chè hữu cơ, các cơ quan quản lý, thanh tra công nhận chè hữu cơ có tính quốc gia. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam Với hơn 125.000 ha chè, sản lượng khoảng 140.000 tấn, hiện sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “Cheviet” đã được đăng ký và bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực. Việt Nam đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu chè, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Kenya.