CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU HỮU CƠ 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp hữu cơ 1.1 Khái niệm về nông nghiệp hữu cơ Trong sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung, nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống canh tác đang dần phát triển mạnh mẽ ở một số quốc gia trong 2 thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên ở Việt Nam, đây vẫn còn là một nội dung rất mới. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về nông nghiệp hữu cơ. Theo Lampkin (1994) thì: “Canh tác hữu cơ là một phương pháp tiếp cận với nông nghiệp nhằm mục tiêu tạo lập hệ thống sản xuất nông nghiệp tổng hợp, bền vững về môi trường, kinh tế và nhân văn; cho phép khai thác tối đa nguồn tài nguyên có thể tái tạo được cũng như quản lý các quá trình sinh thái cùng với sự tác động qua lại của chúng để đảm bảo năng suất cây rồng, vật nuôi và dinh dưỡng cho con người ở mức chấp nhận được đồng thời bảo vệ chúng khỏi sâu, bệnh”.
Theo IFOAM (2002): “Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống đồng bộ hướng tới thực hiện các quá trình với kết quả bảo đảm hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo với động vật và công bằng xã hội, không sử dụng các hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng phi hữu cơ, tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng các nguồn hiện có trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy trình sản xuất”. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi”. Nông nghiệp hữu cơ theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa là Hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, 7 diệt cỏ, thuốc bảo quản… sản xuất từ các nhà máy hóa chất. Vì sản xuất theo cách tự nhiên, nên nền nông nghiệp hữu cơ được cho là lành mạnh, giúp giữ độ phì nhiêu của đất, bảo vệ nguồn nước và giảm thiểu ô nhiễm môi trường cũng như bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi.
Giáo trình Nông nghiệp hữu cơ (Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên) định nghĩa: “Nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên. Nói một cách khác, phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất mà trong đó các quá trình sản xuất đều theo quy luật sinh học tự nhiên vốn có.” Nông nghiệp hữu cơ không chỉ đơn thuần là “nền nông nghiệp không có chất hóa học”, mà nó còn hội tụ đầy đủ các khía cạnh sinh thái, xã hội và kinh tế bền vững. Vì vậy nó là một dạng bền vững của nông nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng, nông nghiệp hữu cơ là phương thức duy trì sự cân bằng sinh thái trong hệ thống canh tác và sử dụng nguồn tài nguyên vốn có theo cách bền vững với một sự chú ý đặc biệt về khía cạnh kinh tế - xã hội của sản xuất.
Tái tạo chu trình dinh dưỡng, sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có, đa dạng hóa là khía cạnh sinh thái quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Các mặt của kinh tế - xã hội như an toàn lương thực, thương mại công bằng, tăng cường nguồn lực… cũng là khía cạnh rất quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Như vậy, từ các định nghĩa đã nêu trên chúng ta có thể hiểu, nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất cho phép khai thác tối ưu các nguồn tài nguyên trong tự nhiên nhằm mục đích tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời đảm bảo cho sự phát triển bền vững của môi trường, kinh tế và xã hội.2 Sự khác nhau giữa nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp truyền thống Nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp truyền thống đều là quá trình sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, 8 khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất có sự khác biệt so với nông nghiệp truyền thống, cụ thể: Về quy mô, mục đích, phương thức sản xuất: Nông nghiệp truyền thống có quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, mang tính chất tự cung tự cấp với mục đích chủ yếu là đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ.
Theo đó, nó đạt đến trình độ thâm canh nhất định dựa trên kinh nghiệm được tích lũy nhiều đời, phương thức sản xuất khá lạc hậu, thủ công, kĩ thuật thô sơ, chủ yếu dựa vào sức người. Khác hẳn với nông nghiệp truyền thống, nông ngiệp hữu cơ là một hệ thống canh tác hiện đại. Nó vừa kế thừa, phát huy những tinh hoa của nông nghiệp truyền thống vừa áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới của nền kinh tế tri thức. Nông nghiệp hữu cơ có quy mô sản xuất lớn, mức độ tập trung cao, sử dụng nhiều máy móc, kỹ thuật tiên tiến với mục đích tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao về vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của môi trường và thu lợi nhuận.
Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu được dùng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ gồm: Về phân bón: chỉ dùng phân hữu cơ làm từ phân chuồng, phân xanh, phân rác, các phế liệu từ lò mổ và nếu có dùng phân khoáng thì dùng loại phân khó tiêu (như phốt phát tự nhiên, bột các loại tảo biển). Về phòng trừ sâu bệnh: Không dùng thuốc hóa học mà phải phát huy tính chống chịu của cây trồng bằng cách bón phân tốt, luân canh, xen canh thường xuyên kết hợp với phòng trừ sinh học, vệ sinh đồng ruộng, dùng các thuốc phòng trừ thảo mộc. Về làm đất: Chỉ làm ở lớp đất mỏng (10 – 15 cm), bón phân để tạo điều 9 kiện cho vi sinh vật hoạt động. Có thể thấy, sự khác biệt rõ nhất trong quy trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ so với nông nghiệp truyền thống là 4 KHÔNG: 1) KHÔNG sử dụng phân bón hóa học và phân người.
2) KHÔNG sử dụng các chất kích thích tăng trưởng. 3) KHÔNG sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật hoặc các chất diệt cỏ. 4) KHÔNG sử dụng các chế phẩm biến đổi gien. Về mặt chi phí và hiệu quả: Chí phí trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ cao hơn so với sản xuất nông nghiệp truyền thống.
Tuy nhiên, lợi nhuận thu được từ các sản phẩm hữu cơ thường cao hơn rất nhiều so với các sản phẩm nông nghiệp thông thường. Hiện nay, người tiêu dùng có xu hướng sẵn sàng trả giá cao để được sử dụng các sản phẩm sạch, an toàn từ sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Chính vì thế, hiệu quả kinh tế từ sản xuất nông nghiệp hữu cơ cao hơn so với nông nghiệp truyền thống. Từ những phân tích trên, ta có thể đánh giá ưu, nhược điểm của hai hình thức canh tác.
Ưu điểm của sản xuất nông nghiệp hữu cơ chính là: - Sử dụng thiên địch và các phương pháp không dùng hóa chất khác - Có khả năng canh tác lâu dài - Không gây những bệnh tật do đột biến gen - Sử dụng thiên địch và các phương pháp không dùng hóa chất khác - Đem lại lợi nhuận cao - Không gây mất cân bằng sinh thái - Không chứa hoặc chứa rất ít dư lượng chất bảo vệ thực vật - Không gây ô nhiễm đất và nguồn nước. Ngược lại, những ưu điểm của sản xuất nông nghiệp hữu cơ lại chính là nhược điểm của sản xuất nông nghiệp truyền thống, trong đó có thể kể đến 10 một số nhược đáng chú ý như: - Gây thoái hóa đất - Lợi nhuận thấp - Mất cân bằng sinh thái - Gây ra nhiều bệnh tật do đột biến gien hoặc dư lượng chất bảo vệ thực vật lớn. Mặc dù có những ưu điểm nổi trội so với sản xuất nông nghiệp truyền thống song sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng có một số nhược điểm: Đây là một hình thức canh tác đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất; giống và góc ghép; quản lý đất, phân bón và chất phụ gia, nước tưới, hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật); thu hoạch và xử lý sau thu hoạch; quản lý và xử lý chất thải; an toàn lao động… Mặt khác, năng suất của sản xuất nông nghiệp hữu cơ không cao cũng là một nhược điểm. Có thể nói nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp truyền thống là hai hệ thống canh tác có nhiều sự khác biệt.
Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của từng hệ thống chính là đánh giá sự khác nhau cơ bản giữa nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp truyền thống. Qua đó, chúng ta có thế thấy được những lợi ích và vai trò ngày càng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ trong sự phát triển của ngành nông nghiệp.3 Vai trò của nông nghiệp hữu cơ trong phát triển nông nghiệp Hiện nay, tình hình mất cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu đang là một áp lực lớn trên toàn cầu. Bên cạnh đó, người tiêu dùng đang ngày một hoang mang với thực phẩm bẩn, sản phẩm nông nghiệp có quá nhiều dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng nghiêm trong đến sức khỏe và đời sống con người. Chính vì vậy, ứng dụng và phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.
11 Đối với môi trường Nông nghiệp hữu cơ thực chất là nền nông nghiệp sinh thái bền vững. Canh tác nông nghiệp hữu cơ sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái nông nghiệp, tránh việc khai thác quá mức gây ô nhiễm cho các nguồn lực tự nhiên, giảm thiểu việc sử dụng năng lượng và các nguồn lực không thể tái sinh, sản xuất đủ lương thực có dinh dưỡng, không độc hại và có chất lượng cao.