Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ sinh học nông lâm 16 đến sinh trưởng và phát triển giống lúa khang dân 18 tại huyện chợ mới

Tài liệu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ sinh học nông lâm 16 đến sinh trưởng và, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

122
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, trong đó sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực. Khoảng 70% dân số sống tại các vùng nông thôn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, trong đó lúa gạo chiếm tới 90% sản lượng lương thực. Việc nâng cao năng suất cây trồng, đặc biệt là cây lúa, là một yêu cầu cấp thiết. Phân bón, đặc biệt là phân hữu cơ sinh học, được coi là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lúa. Theo nghiên cứu, phân bón có thể đóng góp từ 30-40% vào tổng sản lượng cây trồng. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 đến sinh trưởng và phát triển của giống lúa Khang Dân 18 tại huyện Chợ Mới là rất cần thiết, nhằm tìm ra giải pháp tối ưu cho việc bón phân, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định liều lượng phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 thích hợp cho giống lúa Khang Dân 18 tại huyện Chợ Mới. Cụ thể, nghiên cứu sẽ đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng phân bón khác nhau đến khả năng sinh trưởng của giống lúa này trong các vụ mùa 2016 và 2017. Nghiên cứu cũng sẽ xem xét tình hình biểu hiện sâu bệnh hại trên giống lúa khi bón các liều lượng phân khác nhau, từ đó đưa ra khuyến nghị về kỹ thuật bón phân hợp lý cho nông dân. Việc xác định được liều lượng phân bón phù hợp không chỉ giúp tăng năng suất mà còn góp phần bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm.

III. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ được thực hiện thông qua các thí nghiệm tại hiện trường, trong đó sẽ có sự phân bổ ngẫu nhiên các liều lượng phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 khác nhau cho giống lúa Khang Dân 18. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, số nhánh, số bông trên cây sẽ được theo dõi và ghi chép. Đồng thời, các chỉ tiêu về năng suất như trọng lượng hạt, năng suất lý thuyết và thực tế cũng sẽ được đánh giá. Để đảm bảo tính chính xác của kết quả, các phương pháp phân tích thống kê sẽ được sử dụng để xử lý dữ liệu thu thập được. Nghiên cứu cũng sẽ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón này để đưa ra khuyến nghị cho nông dân trong việc áp dụng trong thực tiễn.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và phát triển của giống lúa Khang Dân 18. Các thí nghiệm cho thấy rằng các liều lượng phân bón khác nhau đã tạo ra sự khác biệt rõ rệt về năng suất và chất lượng lúa. Cụ thể, liều lượng tối ưu đã được xác định là 150 kg/ha, giúp tăng năng suất lên đến 10% so với nhóm đối chứng không bón phân. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bón phân hữu cơ sinh học không chỉ giúp tăng năng suất mà còn giảm thiểu sâu bệnh hại, từ đó đảm bảo an toàn cho cây trồng và môi trường.

V. Kết luận và đề nghị

Nghiên cứu đã xác định được liều lượng phân hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 thích hợp cho giống lúa Khang Dân 18, từ đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đề nghị các cơ quan chức năng và nông dân nên áp dụng các kỹ thuật bón phân hợp lý để tối ưu hóa sản xuất lúa gạo tại huyện Chợ Mới. Đồng thời, cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các loại phân bón khác nhau đến các giống lúa khác để có thể đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho từng loại cây trồng và điều kiện canh tác cụ thể.

03/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân tham gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền thống.

Do sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân, nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo. Trong gần ba thập kỷ qua nhờ có đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo. Tuy vậy thì người dân sản lúa nước vẫn chủ yếu dựa theo kinh nghiệm truyền thống. Những năm gần đây người dân đã có ý thức đầu tư vào trong thâm canh để tăng năng sản lượng lúa tuy vậy năng suất toàn xã mới chỉ đạt khoảng 49,5 tạ/ha.

Do bón phân theo kinh nghiệm nên một số hộ còn bón lượng thấp chưa đủ yêu cầu để cây lúa sinh trưởng tốt cho năng suất cao. Trong khi đó một số hộ có điều kiện cơ sở vật chất để thâm canh lại bón lượng phân lớn, không cân đối lượng N với P, K nên cây lúa phát triển quá mức, sâu bệnh hại nhiều. Mặc dù các nghiên cứu đã đề cập nhiều vấn đề như: chọn tạo giống, tính thích ứng, sâu bệnh… Tuy nhiên, về ảnh hưởng của dinh dưỡng cho lúa, các nghiên cứu chưa đề cập về liều lượng , tỷ lệ và kỹ thuật sử dụng phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 cho từng vùng, từng vụ, từng giống cụ thể. Việc bón phân không cân dối, kỹ thuật bón chưa hợp lý sẽ làm hạn chế năng suất và không phát huy hết tiềm năng của giống.

5 Giống lúa Khang dân 18 là giống lúa thuần mới được đưa vào cơ cấu sản suất của tỉnh, tuy cũng đã có nhưng khuyến cao về lượng phân bón, nhưng do điều kiện từng vùng của tỉnh khác nhau nên tại địa phương vẫn chưa tìm ra tổ hợp thích hợp nhất với điều kiện thâm canh của bà con. Do vậy kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng kỹ thuật thâm canh năng suất cho giống lúa Khang dân 18 nói chung và tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn nói riêng. Cơ sở lý luận Để nâng cao được năng suất cây trồng nói chung và năng suất cây lúa nói riêng, việc đầu tư khoa học kỹ thuật như đưa giống mới, mức bón phân phù hợp, bảo vệ thực vật, thủy lợi là những vấn đề mấu chốt. Trong đó đưa ra được tổ hợp phân bón phù hợp với từng giống lúa, tại từng địa phương là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Như Đào Thế Tuấn năm 1970 [28] viết “Nếu chỉ dựa vào tàn dư thực vật để bón cho cây trồng thì phải dùng tàn dư thực vật của 6 - 20 ha mới có đủ dinh dưỡng cung cấp cho 1ha thâm canh”. Vì vậy, nền nông nghiệp này cũng không thể đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng với yêu cầu của con người Trong lịch sử phát triển nền nông nghiệp tại mỗi quốc gia trên thế giới đều đã, đang trải qua các hình thức phát triển và sử dụng phân bón theo Bùi Huy Đáp, 1980 [9]. - Nền nông nghiệp cổ điển: Là hái lượm (không trồng trọt) nên không đáp ứng được nhu cầu sống của con người khi dân số ngày càng tăng. - Nền nông nghiệp hữu cơ: Là dựa vào chăn nuôi để lấy phân và trồng cây phân xanh, tận dụng tàn dư thực vật, không dùng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật, dựa vào vi sinh vật sống trong đất và điều kiện phát triển vi sinh vật đất cung cấp dinh dưỡng cho cây… Việc bón phân cho 6 cây thì chỉ bón các loại phân thiên nhiên.

Nền nông nghiệp này cho năng suất cây trồng thấp, việc cung cấp dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng lại bấp bênh do phụ thuộc vào sự phân giải của vi sinh vật. Kinh nghiệm canh tác của nhân dân ta, cùng nhiều nghiên cứu về cây lúa đã cho thấy: Để đạt năng suất lúa 5 tạ/ha cần phải cung cấp từ 100 - 120 kg N/ha. Vì vậy nếu chỉ bằng phân chuồng hoặc phân hữu cơ thì phải bón 30 tấn mới đủ lượng đạm. Như vậy, rất khó khăn trong việc chuẩn bị đủ lượng phân hữu cơ.Theo Bùi Huy Đáp (1980) [9] nếu dựa vào chăn nuôi thì lượng thóc sản xuất được 5 tạ/ha, vừa đủ nuôi đàn lợn để có 30 tấn phân chuồng.

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [30] thì nền nông nghiệp hữu cơ tuy có làm độ phì của đất suy giảm chậm hơn nhưng nhìn tổng thể thì độ phì của đất vẫn bị suy giảm đáng kể. Kết quả thử nghiệm sau 30 năm của FAO cho thấy: “Nếu tận dụng hết phân chuồng và tàn dư thực vật trong một trang trại để bón ruộng mà không bón phân hoá học, năng suất cây trồng giảm ít nhất là 30%, đất bị suy kiệt dinh dưỡng nghiêm trọng, một số cây giống mới (giống lai) cần có một lượng phân bón thích hợp thì mới đạt được năng suất tối đa". Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần vào việc nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng và chất lượng của sản phẩm. Đúng như nhận định của Yang trong hai năm 1998 - 1999 [43] “Không có phân hoá học, nông nghiệp thế giới không thể nào trong 50 năm qua sản lượng tăng gấp 4 lần và trở thành một trong các yếu tố cơ bản của sự tăng mức sống ở các nước văn minh”.

Đất là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thiếu của nhà nông, nhưng đất có thể bị suy kiệt đến mức độ không thể sản xuất được nữa nếu chúng ta không quan tâm đến bón phân cho cây trồng. Trong quá trình sử dụng có những yếu tố dinh dưỡng cây trồng lấy đi không cần bù trả lại vì hàm lượng của chúng quá nhiều trong đất. Đất có thể bị suy kiệt dần nếu chỉ quan 7 tâm trả lại các chất dinh dưỡng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch. Vì trong quá trình sinh trưởng của cây trồng, mùn (chất hữu cơ) bị phân huỷ để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời các chất dinh dưỡng khác có thể bị rửa trôi hay bay hơi dẫn đến mất chất dinh dưỡng từ đất.

Việc duy trì hàm lượng mùn hợp lý trong đất có tác dụng rất rõ cho việc nâng cao hệ số sử dụng phân bón của cây trồng. Ngoài ra còn làm cơ sở cho việc tính lượng phân bón nhằm duy trì độ phì nhiêu của đất trong trồng trọt, đồng thời cũng mở đường cho việc phát triển sản xuất và việc sử dụng phân bón hoá học nhằm đạt hiệu quả trồng trọt ngày càng cao hơn. Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần vào việc nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng và chất lượng của sản phẩm. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đặc điểm của giống, biện pháp kỹ thuật, điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu.với mức bón và loại phân bón.

Những giống thấp cây bón lượng đạm nhiều hơn giống cao cây; giống có bông to và hạt to bón phân nhiều hơn giống có bông nhỏ và hạt nhỏ; giống có thân to và dầy sẽ chịu được lượng phân bón cao, khi bón nhiều sẽ khó bị đổ. Vụ xuân và vụ mùa có khí hậu hoàn toàn khác nhau, vì vậy trên cùng 1 chân đất, cùng một loại giống lúa, cùng bón 1 tổ hợp phân bón sẽ tìm ra tổ hợp phân bón ấy phù hợp hơn trong điều kiện mùa vụ nào. Vì vậy nghiên cứu các tổ hợp phân bón cho giống lúa Khang dân 18 tại huyện Chợ mới là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn và hoàn toàn đủ cơ sở lý luận để thực hiện. Tình hình nghiên cứu về phân bón cho cây trồng 1.

Các nghiên cứu về phân bón trên thế giới Phân bón có từ rất lâu đời cùng với sự ra đời của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân hữu cơ. Từ trước Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu cơ cho ruộng, ở Trung Quốc đã 8 biết bón phân xanh và phân bón đã được bắt đầu sử dụng từ các phân của động vật và mở rộng ra các loại phân hữu cơ khác (Bùi Đình Dinh, 1999) [7]. Theo Patrich năm 1968 [38] và Kobayshi năm 1995 [36] Khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh của 2 giống lúa Hokuriki 52 và Yamakogame cho biết: Phản ứng với điều kiện phân bón khác nhau cho thấy cây có tính thích ứng cao trong điều kiện tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con ở mỗi đối tượng, trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong điều kiện trồng trọt bình thường, điều đó có nghĩa là giống khoẻ (Hokariki 52) sẽ làm hại nhiều cho giống yếu (Yamakogame) khi không bị thiếu phân bón. Theo Shi và cộng sự năm 1986 [40] cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy hoạt động quang hợp.

Kết quả nghiên cứu các giống lúa Indica có phản ứng với phân bón là tăng diện tích lá lớn hơn so với giống lúa Japonica nhưng lại phản ứng yếu hơn khi hàm lượng phân bón tăng. Khi bàn về năng suất tác giả cho biết: năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón và biện pháp kỹ thuật. Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất cao vì nó phản ứng tốt với phân bón. Theo kết quả nghiên cứu của Sinclair năm 1989 [41] hiệu suất bón đạm cho lúa rất khác nhau: 1kg N cho từ 3,1 - 23 kg thóc.

Thí nghiệm của Ying, Yang năm 1998, 1999 [43 ]cho thấy: Sự tích luỹ đạm, lân và kali ở các cơ quan trên mặt đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tích luỹ tiếp ở các giai đoạn tiếp theo của cây. Ở nhiều nước trên thế giới thường hay bón phân chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á. Trong thời gian gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phân chuồng được dùng bón lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học nông lâm 16 đến sinh trưởng giống lúa Khang Dân 18 tại huyện Chợ Mới" của tác giả Ma Đình Tranh, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Văn Ngọc, đã phân tích tác động của phân hữu cơ sinh học đến sự phát triển của giống lúa Khang Dân 18. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phân hữu cơ trong nông nghiệp mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải thiện năng suất lúa tại khu vực Chợ Mới, Bắc Kạn. Đối với những người làm nông và nghiên cứu viên, thông tin từ luận văn này rất hữu ích trong việc áp dụng các phương pháp canh tác bền vững.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu khác trong lĩnh vực khoa học cây trồng và nông nghiệp, bạn có thể tham khảo những bài viết sau đây: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng và năng suất cây diêm mạch, nơi nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng, và Luận án tiến sĩ về hiệu lực của phân vô cơ đa lượng đối với cây lúa, nghiên cứu về phân bón và đất canh tác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các phương pháp canh tác và hiệu quả của các loại phân bón trong nông nghiệp.