Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận *Cơ sở khoa học đối với việc bón phân qua lá Bón phân qua lá là biện pháp phun một hay nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng lên các phần ở phía trên mặt đất của cây (lá, cuống, hoa, trái) với mục đích nâng cao sự hấp thu dinh dưỡng qua các phần trên không của cây trồng. Cây không những hấp thu chất dinh dưỡng qua rễ mà còn hấp thu qua lá, trong khi diện tích lá của cây lại gấp hàng chục lần diện tích rễ cây.
Phân bón là yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng cây trồng. Ngoài dinh dưỡng qua đất thì phân bón lá góp phần hỗ trợ cho cây phát triển tốt. Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy bón phân qua lá giúp tăng năng suất từ 12- 25 % so với cách bón phân thông thường. Khi bón qua lá, chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá.
Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt tới 95%. Trong khi đó, bón qua đất, cây chỉ sử dụng được 45-50% chất dinh dưỡng. Sở dĩ như vậy là vì tổng diện tích bề mặt các lá trên một cây rộng gấp 15-20 lần diện tích đất được che phủ bởi cành và lá, nghĩa là diện tích hấp thụ chất dinh dưỡng của lá rộng hơn rất nhiều so với diện tích đất trồng của một cây. Qua khí khổng, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào, mô cây để sử dụng.
Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng ít nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có. Do đó, khi bổ sung các chất này trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng cho cây nên tạo điều 4 kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng. Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng. * Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu mật độ Mật độ trồng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây hoa lily nói riêng.
Mật độ trồng quá dày sẽ có sự cạnh tranh về dinh dưỡng lớn, làm cho cây không có khả năng phát triển hết tiềm năng của giống. Mỗi một loại cây trồng, yêu cầu trồng ở một mật độ nhất định mới sinh trưởng, phát triển thuận lợi, cho năng suất và chất lượng tốt. Đối với hoa lily, tuỳ theo mục đích thương mại làm hoa cắm cành hay hoa chậu mà người ta trồng ở mật độ khác nhau. Ở nước ta, hoa lily là một cây mới được nghiên cứu về mật độ trồng còn ít, việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng phù hợp sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
* Cơ sở khoa học của việc sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng Chế phẩm chất kích thích sinh trưởng có thể làm thay đổi một số đặc điểm thực vật học của cây hoa như: chiều cao cây, màu sắc lá, thời gian sinh trưởng, thời gian ra hoa, chất lượng, tuổi thọ hoa. Khi sử dụng chế phẩm chất kích thích sinh trưởng cần chú ý về nồng độ vì ở nồng độ thấp chúng có tác dụng kích thích sinh trưởng, nồng độ cao có tác dụng ức chế. Chế phẩm chất kích thích sinh trưởng không phải là dinh dưỡng nên không dùng thay thế phân bón. Ứng dụng cơ bản của chất điều hòa sinh trưởng thực vật không chỉ giới hạn trong việc điều chỉnh ra hoa ra trái như chúng ta thường nghĩ, mà còn có thể tác động hầu hết các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nhằm phục vụ yêu cầu của con người.
5 - Kích thích nhanh sự sinh trưởng của cây tăng chiều cao, tăng sinh khối. - Tăng kích thước và năng suất quả. - Kích thích sự ra rễ phụ của cành giâm, cành chiết. - Điều khiển sự ngủ nghỉ của cơ quan thực vật.
- Điều chỉnh sự ra hoa của cây. - Điều chỉnh giới tính của hoa. - Hạn chế sự rụng của lá, hoa và quả. - Tăng đậu quả và tạo quả không hạt.
- Điều chỉnh sự chín của quả. - Tăng tính chống chịu của cây trồng với các điều kiện bất lợi môi trường. - Tạo dáng cho cây cảnh. - Trừ cỏ dại cho cây trồng.
Cơ sở thực tiễn Lai Châu là một tỉnh phía nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam. Địa hình phức tạp, chia cắt, khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một số khu vực có nhiệt độ mát mẻ quanh năm. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 906. Trong đó: Đất Nông nghiệp: 832.355 ha chiếm 91,7%, đất chưa sử dụng 47.632,6 ha, chiếm 5%, còn lại là đất khác (theo Quyết định số 17/2012/QĐ- UBND ngày 20/8/2012 của UBND tỉnh Lai Châu về Phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lai Châu, giai đoạn 2011-2020).
Quỹ đất dành cho nông nghiệp là rất lớn, tuy nhiên diện tích dành cho phát triển cây hoa chưa nhiều, còn manh mún, nhỏ lẻ. Vấn đề phát triển nông, lâm nghiệp được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh, trong đó có các mô hình thuộc các dự án: “Xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2011 - 2015”, có dự án chuyển giao kỹ thuật trồng hoa lily tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai 6 Châu, mô hình cho thấy hoa lily phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Việc phát triển hoa lily trên địa bàn tỉnh còn hết sức mới mẻ, diện tích trồng hoa lily không cao chỉ vài nghìn m2/năm với khoảng 10.000 củ bởi một số nguyên nhân như kỹ thuật trồng hoa lily tương đối phức tạp, đầu tư lớn về giống lớn, công chăm sóc tỉ mỉ. Trước những khó khăn như vậy thì đó cũng lại trở thành một tiềm năng có thể phát triển hoa lily tại địa phương, bởi Lai Châu không có vùng trồng hoa tập trung, chỉ trồng manh mún và theo mùa vụ, lại luôn phải nhập hoa từ nơi khác trong đó có hoa lily.
Huyện Tân Uyên nằm dọc Quốc lộ 32, cách Hà Nội gần 400 km về phía Tây Bắc, cách trung tâm thành phố Lai Châu 60km. Việc trồng hoa lily mới nhỏ lẻ ở một vài hộ gia đình khoảng vài trăm củ/năm, chưa có mô hình hay đề tài nào được triển khai nghiên cứu tại huyện mà tự phát trong nhân dân. Qua tìm hiểu, cây hoa lily có thể sinh trưởng phát triển tại địa phương cho bông to, đẹp, thích nghi với điều kiện khí hậu. Để góp phần vào việc đưa hoa lily sản xuất tại địa phương, chuyển dịch cơ cấu cây trồng thì đề tài xác định phân bón lá và mật độ, chế phẩm kích thích sinh trưởng phù hợp để trồng hoa lily là hết sức cần thiết.
Giới thiệu chung về cây hoa lily 1. Nguồn gốc và phân loại Lily (Limo Spp) là tên gọi chung tất cả các cây thuộc loài Lilium, họ Lilyaceae, bộ phụ của thực vật một lá mầm. Đặc trưng của loài này là thân ngầm dưới đất có rất nhiều vảy bao bọc lại nên người ta còn gọi đó là loại hoa bách hợp. Theo hệ thống phân loại của Takhtajan cây lily thuộc ngành hạt kín Angiospermae, thuộc lớp một lá mầm Monocotyledoneae hay lớp hành Liliopsida, phân lớp hành Liliae, bộ hành Liliales, họ hành Liliaceae.
Họ Liliaceae là một trong những họ thực vật lớn nhất với 200 chi và hơn 3. Chi Lilium gồm khoảng 220 loài, trong đó có một số loài đã được trồng cách đây 3000 năm. Sau năm 1950, khoảng 100 giống Lily mới đã được lai tạo và đăng kí trên thế giới với nhiều giống lai nguồn gốc từ hai loài Nhật Bản L. Theo Đào Thanh Vân và cộng sự (2007) [15], trên thế giới có trên 300 giống khác nhau, chủ yếu phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới - Bắc bán cầu, một số ít ở vùng núi cao nhiệt đới.
Trung Quốc là nước có nhiều chủng loại tay nhất và cũng là trung tâm, nguồn gốc của tay trên thế giới. Theo kết quả điều tra, ở Trung Quốc có khoảng 460 giống, 280 biến chủng (chiếm trên tổng số giống hoa tay trên thế giới), trong đó có 136 giống, 52 biến chủng do Trung Quốc tạo ra. Nhật Bản có 145 giống trong đó có 19 giống là đặc trưng của của nước này. Hà Lan có khoảng 320 giống, trong đó 80% là các giống do chính Hà Lan tạo ra.
Đặc điểm hình thái và yêu cầu sinh thái của hoa lily 1. Đặc điểm hình thái Theo Đặng Văn Đông và cộng sự (2005) [7], lily là cây thân thảo lâu năm. Phần dưới mặt đất gồm thân vảy, rễ. Phần trên mặt đất gồm lá, thân, mầm hạt (một số không có mầm hạt).
- Thân vảy (củ): thân vảy là phần phình to của thân tạo thành. Trên đĩa thân vảy có vài chục vảy hợp lại, vảy hình cầu dẹt, hình trứng, thân vảy không có vỏ bao bọc. Màu sắc và kích thước thân vảy phụ thuộc từng loài. - Rễ: rễ gồm rễ thân và rễ gốc.
Rễ gốc là hệ rễ chùm, sinh ra từ gốc thân vảy. Rễ thân do phần thân dưới mặt đất sinh ra. Những rễ này sẽ nhanh chóng vượt trội những rễ củ và cung cấp cho cây 90% lượng nước và chất dinh dưỡng mà cây cần hấp thu và có nhiệm vụ nâng đỡ thân (Đặng Văn Đông và cộng sự 2005) [7]. 8 - Lá: lá mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xòe hoặc hình thuôn, hình giải, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn.
Lá to hay nhỏ tùy thuộc vào giống, điều kiện trồng trọt và thời gian xử lý, lá có màu xanh bóng. - Thân: thân màu xanh bóng, trên thân mang nhiều lá, trong các nách lá có thể mọc lên mầm hạt (củ con). - Củ con và mầm hạt: đại bộ phận lily có nhiều củ con ở gần thân rễ, chu vi củ từ 0,5 - 3 cm, số lượng củ con tùy thuộc giống và điều kiện trồng trọt. - Hoa: hoa đều, lưỡng tính, hoa mẫu ba.
Hoa mọc đơn lẻ hoặc xếp đặt trên trục hoa.