MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Tổ tiên của chi Oryza là một loài cây hoang dại trên lục địa Gondwana tồn tại cách đây ít nhất 130 triệu năm và phát tán rộng khắp các châu lục trong quá trình trôi dạt lục địa. Hiện nay có khoảng 23 loài cây hoang dại thuộc chi này và 2 loài được thuần hoá thành lúa trồng là Oryza sativa, được trồng khắp nơi trên thế giới và Oryza glaberrima chỉ có ở Tây Phi, hầu hết các giống hiện nay đều xuất phát từ Oryza sativa.
Vùng Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của cây lúa, ở đây loại indica và japonica phát triển rất mạnh. Đây là hai loài lúa chính được gieo trồng làm cây lương thực trên khắp thế giới. Đông Nam Á là nơi quy tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết để cây lúa phát triển (Nguyễn Thị Lẫm, 1999) [14]. Việt Nam cũng được coi là nơi khởi nguyên của cây lúa.
Các kết quả khảo cổ đã chứng minh sự tồn tại của người Việt Nam từ thời Đồ đá cũ đến văn hóa Hòa Bình. Từ hái lượm con người đã chuyển sang sản xuất làm cho môi trường sống được ổn định. Thời kỳ đó người Việt đã biết làm nông nghiệp trong đó có cả nghề trồng lúa (Bùi Huy Đáp, 1980) [4]. Mặc dù là cái nôi sinh ra cây lúa nhưng do chiến tranh xảy ra liên miên nên sản xuất nông nghiệp của Việt Nam phát triển rất chậm.
Trước những năm 1989, hàng năm nước ta phải nhập khoảng 80 vạn tấn gạo để đáp ứng yêu cầu lương thực trong nước. Nhưng từ năm 1990 đến nay do xác định được vị trí và tầm quan trọng của sản xuất lúa đối với nền kinh tế nên Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách thiết thực để thúc đẩy sản xuất lúa phát triển. Hiện nay lúa gạo đã trở thành sản phẩm hàng hóa, Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, đây là một động lực vô cùng quan trọng thúc đẩy sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 xuất lúa phát triển. Mặc dù đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo nhưng giá trị xuất khẩu của nước ta thấp vì chất lượng gạo chưa đáp ứng được yêu cầu của một số thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc.
Nguyên nhân do cơ cấu giống của nước ta còn nghèo nàn, các giống lúa năng suất cao được sử dụng khá phổ biến nhưng các giống chất lượng tốt còn rất hạn chế, chính vì vậy mặc dù xuất khẩu với trữ lượng lớn nhưng giá trị thu nhập từ xuất khẩu gạo chưa cao. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) giá bán bình quân các loại gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn giá gạo bình quân của Thái Lan. Khoảng cách chênh lệch giá gạo xuất khẩu của Việt Nam với Thái Lan loại 5% tấm là 20- 35 USD/tấn. Việt Nam là nước có khí hậu tương đối phù hợp cho cây lúa sinh trưởng, phát triển, ở nhiều vùng sinh thái có khí hậu đặc biệt đã tồn tại rất nhiều giống lúa có chất lượng tốt như Tú Lệ ở Yên Bái, Kháu Khỉnh ở Hòa Bình, Khẩu nùa khao ở Lạng Sơn, Séng cù, Khẩu Nậm xít ở Lào Cai….
Lào Cai có địa hình tương đối phức tạp, đất có độ dốc lớn, nhiệt độ trung bình năm thấp (25-28oC), lượng mưa trung bình đạt từ 1800-2000 mm nhưng phân bố không đều giữa các tháng, mưa thường tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 do đó vụ xuân thường gặp hạn và rét ở đầu vụ, chính vì vậy cơ cấu mùa vụ trồng lúa hạn chế, năng suất và sản lượng lúa thấp. Năm 2008, năng suất lúa của Lào Cai đạt 41,8 tạ/ha, sản lượng 119. Yếu tố hạn chế chính đến sản xuất lúa ở Lào Cai là chưa có bộ giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, ngoài ra các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuất còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở các huyện vùng cao như Simacai, Bắc Hà…Mặc dù vậy Lào Cai cũng là một tỉnh có rất nhiều giống lúa đặc sản, nếu khai thác và sử dụng hợp lý các giống lúa này trong sản xuất sẽ tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, cải thiện đời sống cho nông dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Khẩu nậm xít là giống lúa thuần thuộc loài Oryza Sativa L.
đã được trồng lâu đời ở Bắc Hà tỉnh Lào Cai. Khẩu nậm xít dịch theo tiếng địa phương là “Lúa nước lạnh” vì chỉ thích nghi với vùng nước lạnh, nhiệt độ thích hợp là 18-200C. Vì vậy Bắc Hà là vùng sinh thái rất thích hợp với giống Khẩu nậm xít. Khẩu nậm xít là một loại gạo có chất lượng cao, cơm dẻo, thơm, đậm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
Hiện nay sản lượng gạo không đủ cung ứng trên thị trường, giá gạo Khẩu nậm xít là 20.000 đồng/kg, gấp đôi giá gạo Trung Quốc. Chính vì vậy huyện Bắc Hà rất quan tâm phát triển giống lúa này thành thương hiệu để cạnh tranh trên thị trường. Trong thực tế sản xuất lúa tại Bắc Hà việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất còn hạn chế, đặc biệt đối với các giống lúa địa phương, nên năng suất của Khẩu Nậm xít rất thấp, chỉ đạt 28 tạ/ha. Chính vì vậy để cải thiện năng suất của lúa Khẩu nậm xít, bảo tồn được nguồn gen quý có chất lượng cao cho sản xuất lúa ở Việt Nam cần xác định các biện pháp kỹ thuật phù hợp với đặc điểm của giống.
Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lúa đặc sản Khẩu nậm xít tại Huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai". MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định được công thức phân bón và mật độ phù hợp với giống Khẩu nậm xít tại Bắc Hà, Lào Cai. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI - Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống Khẩu nậm xít ở thí nghiệm mật độ, phân bón. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh lý của giống Khẩu nậm xít ở thí nghiệm mật độ, phân bón.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Theo dõi khả năng chống chịu (chống chịu sâu bệnh, chống đổ) của giống Khẩu nậm xít ở thí nghiệm mật độ, phân bón. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống Khẩu nậm xít ở thí nghiệm mật độ, phân bón. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 4. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học xác định công thức bón phân hợp lý và mật độ cấy phù hợp với giống Khẩu nậm xít tại huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai.
- Kết quả của đề tài là luận cứ khoa học cho các nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác đối với giống lúa thuần chất lượng cao. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được công thức bón phân và mật độ cấy hợp lý cho giống lúa Khẩu nậm xít, cải thiện năng suất giống Khẩu nậm xít, thúc đẩy sản xuất lúa Bắc Hà phát triển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Trong sản xuất giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng của cây trồng.
Mỗi giống thích hợp với một chế độ trồng trọt, canh tác nhất định. Các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như thời vụ, bón phân, tưới nước. đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của giống. Chính vì vậy để phát huy được tiềm năng năng suất của giống cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp với giống (Luyện Hữu Chỉ, 1997)[3].
Khẩu nậm xít là giống lúa đặc sản của huyện Bắc Hà, có ưu điểm là chất lượng tốt. Mặc dù được trồng từ lâu đời tại Bắc Hà nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ về các biện pháp kỹ thuật canh tác, đây cũng là một trong những yếu tố hạn chế đến năng suất và chất lượng của giống. Trong các biện pháp kỹ thuật canh tác phân bón, mật độ và thời vụ là ba yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của giống. Phân bón là biện pháp kỹ thuật quan trọng thứ hai trong kỹ thuật canh tác nông nghiệp.
Cây lúa có nhu cầu phân bón khác nhau tùy theo từng chủng loại giống, đất đai và khí hậu thời tiết. Việc xác định đúng và cung cấp kịp thời dinh dưỡng theo nhu cầu giống trên từng loại đất và khí hậu thời tiết là rất cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của giống. Mật độ là một yếu tố cấu thành năng suất, ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh tối đa của cây lúa do vậy xác định mật độ cấy hợp lý giúp cây lúa sinh trưởng phát triển tốt nhất cho năng suất, chất lượng cao nhất. Chính vì vậy nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật như mật độ và phân bón cho giống Khẩu nậm xít là vấn đề rất cần thiết, góp phần phát triển giống lúa đặc sản này tại Bắc Hà, Lào Cai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Lúa là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục với tổng diện tích thu hoạch là 161,42 triệu ha.
Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á nơi chiếm tới 88,86% diện tích gieo trồng và 90,13% sản lượng lúa của thế giới (FAOSTAT 2010) [32]. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa trên thế giới giai đoạn 1961-2009 Năm Diện tích Năng suất Sản lƣợng (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1961 115,50 18,70 215,65 1970 133,10 23,80 316,38 1980 144.97 39,40 598,03 2002 147,69 39,0 577,99 2003 149,20 39,10 583,00 2004 151,02 40,30 608,37 2005 155,03 40,92 634,39 2006 155,74 41,16 641,09 2007 155,95 42,12 656,81 2008 159,25 43,09 685,87 2009 161,42 42,04 678,69 Nguồn: FAOSTAT, 2010 [32] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Theo thống kê của FAO, năm 2009 toàn thế giới trồng 161,42 triệu ha với năng suất 49,7 tạ/ha và cho sản lượng 784,8 triệu tấn (FAO, 2010) [32].