Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường đất và nguồn nước tưới nông nghiệp đang trở thành thách thức lớn đối với an toàn vệ sinh thực phẩm. Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA), các nguyên tố kim loại như Chì (Pb), Asen (As), Thủy ngân (Hg), Cadmi (Cd), Crom (Cr), Niken (Ni), Đồng (Cu) và Beri (Be) thuộc danh mục các chất độc hại hàng đầu. Trong đó, Đồng và Kẽm là các nguyên tố vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng của thực vật và chuyển hóa của cơ thể con người, nhưng sẽ gây độc tính khi tích tụ ở hàm lượng cao. Ngược lại, Chì là kim loại nặng không có vai trò sinh học, có khả năng gây độc cấp tính và mạn tính ngay cả ở nồng độ rất thấp.

Tại Việt Nam, rau muống (Ipomoea aquatica) là loại rau ăn lá phổ biến trong bữa ăn hàng ngày. Tuy nhiên, trước áp lực đô thị hóa và nhu cầu thị trường, nhiều vùng canh tác rau tại TP.HCM (như Bình Chánh quanh KCN Tân Tạo, Lê Minh Xuân; quận Tân Bình, Gò Vấp, Quận 12 quanh kênh Tham Lương; Thủ Đức quanh Suối Cái và Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức) đã sử dụng nguồn nước kênh rạch và nước thải công nghiệp ô nhiễm để tưới tiêu. Các kết quả khảo sát trước đó cho thấy nhiều mẫu nước và mẫu rau thủy sinh tại các khu vực này có hàm lượng Cu, Zn và Pb vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Việc nhiễm kim loại nặng không thể loại bỏ bằng cách rửa hay nấu chín thông thường, dẫn đến nguy cơ tích lũy độc chất trong cơ thể người tiêu dùng.

Trước thực trạng đó, đồ án tốt nghiệp ngành Công nghệ Thực phẩm được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng đường chuẩn xác định hàm lượng Cu, Pb, Zn trên thiết bị quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) và xác định giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ).
  2. Khảo sát mức độ ảnh hưởng của hàm lượng Pb trong nước tưới đến sự hấp thu các kim loại vi lượng cần thiết (Cu, Zn) của cây rau muống.
  3. Nghiên cứu khả năng tích lũy Pb trong phần thương phẩm của rau muống khi tưới nước ô nhiễm Pb ở các nồng độ và thời gian sinh trưởng khác nhau.
  4. So sánh hàm lượng Cu, Pb, Zn tích lũy trong rau muống với các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) hiện hành.
  5. Ước lượng hàm lượng Cu, Pb, Zn trung bình hấp thụ vào cơ thể người qua khẩu phần ăn hàng ngày để cảnh báo nguy cơ sức khỏe.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cây rau muống (Ipomoea aquatica) thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) và ba nguyên tố kim loại Cu, Zn, Pb (sử dụng các muối $\text{Cu(NO}_3)_2$, $\text{ZnCl}_2$, $\text{Pb(NO}_3)_2$).
  • Phạm vi nghiên cứu: Thí nghiệm trồng chậu xốp được bố trí tại quy mô phòng thí nghiệm/bán tự nhiên với 4 lô thực nghiệm (đối chứng và các nồng độ Pb 1 ppm, 3 ppm, 5 ppm; nồng độ Cu cố định 1 ppm, Zn cố định 2 ppm; lặp lại $n=3$), theo dõi và thu hoạch tại 2 mốc thời gian: 30 ngày và 40 ngày. Quá trình phân tích dụng cụ được tiến hành tại Phòng Hóa lý Phân tích – Viện Công nghệ Hóa học (số 1 Mạc Đĩnh Chi, TP.HCM).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đồ án dựa trên cơ sở lý thuyết về sinh lý hấp thu dinh dưỡng khoáng ở thực vật và cơ chế độc học kim loại nặng:

  • Cơ chế hấp thu kim loại ở thực vật: Quá trình vận chuyển ion từ dung dịch đất vào rễ diễn ra qua cơ chế thụ động (khuếch tán theo gradient nồng độ, dòng chảy khối do thoát hơi nước, hút bám trao đổi trên bề mặt keo đất và rễ) và cơ chế chủ động (qua màng sinh chất chọn lọc, cần năng lượng ATP và chất mang). Sự xâm nhập trải qua 4 giai đoạn: đi vào vùng tự do của rễ, tạo phức/mất hoạt tính trong tế bào chất, vận chuyển qua mô dẫn lên chồi non, và tích tụ tại các mô (chủ yếu 80–90% ở rễ, phần còn lại chuyển lên thân và lá). Khi có mặt kim loại không cần thiết (Pb), sự cạnh tranh ion diễn ra làm thay đổi tính thấm màng tế bào và ức chế khả năng hấp thu các ion cần thiết ($\text{Cu}^{2+}, \text{Zn}^{2+}$).
  • Độc tính sinh học của kim loại: Pb ức chế các enzym tạo máu ($\delta$-aminolaevulinate dehydratase, co-proporphyrinogen oxidase, ferrochelatase) gây thiếu máu, tổn thương thần kinh và tích tụ 94% trong xương, răng. Đồng tham gia cấu tạo enzym oxy hóa (cytochrome oxidase, superoxide dismutase) và chuyển hóa sắt, nhưng gây ngộ độc cấp tính khi dư thừa. Kẽm cấu tạo nên enzym dehydrogenase và điều hòa auxin, có thể gây rối loạn tiêu hóa khi vượt ngưỡng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân tích hóa lý bao gồm:

  • Bố trí thực nghiệm: Trồng rau muống trên đất dinh dưỡng sạch (hàm lượng mùn 8%, N 0,75%, $\text{P}_2\text{O}_5$ 0,55%, $\text{S}+\text{CaO}+\text{MgO} = 502\text{ mg}$), kiểm tra nền kim loại trước khi gây ô nhiễm. Nước tưới được pha chế với nồng độ cố định $\text{Cu}^{2+} = 1\text{ ppm}$, $\text{Zn}^{2+} = 2\text{ ppm}$ và nồng độ $\text{Pb}^{2+}$ thay đổi theo 4 nghiệm thức: Đối chứng (0 ppm Pb), 1Pb (1 ppm Pb), 3Pb (3 ppm Pb), 5Pb (5 ppm Pb).
  • Quy trình xử lý mẫu: Mẫu rau thương phẩm sau thu hoạch được rửa sạch bằng nước cất, sấy khô ở $60^\circ\text{C}$ trong 48–72 giờ. Cân $0,1\text{ g}$ mẫu khô vào vessel, tiến hành phá mẫu ướt bằng hệ vi sóng kín CEM MARXS với hỗn hợp $1,5\text{ ml HCl } 37% + 5\text{ ml HNO}_3\text{ } 65%$. Thông số vi sóng: nhiệt độ $165^\circ\text{C}$, áp suất 100 psi, công suất 300 W (1–3 mẫu) hoặc 600 W (3–6 mẫu), thời gian nâng nhiệt 5 phút, giữ nhiệt 5 phút. Mẫu sau phá được lọc và định mức.
  • Phương pháp phân tích công cụ: Đo phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) trên máy GBC Avanta (Úc), sử dụng đèn catot rỗng (HCL), ngọn lửa khí cháy $\text{C}_2\text{H}_2$ – không khí nén, lưu lượng $\text{C}_2\text{H}_2 = 1,5\text{ l/phút}$, tốc độ hút mẫu $7,2\text{ ml/phút}$.
  • Hệ thống tiêu chuẩn so sánh:
    • TCVN 7209:2002: Giới hạn tối đa kim loại nặng trong đất nông nghiệp (Cu = 50 mg/kg, Pb = 70 mg/kg, Zn = 200 mg/kg).
    • TCVN 5945:1995: Giới hạn kim loại trong nước tưới tiêu (Cu = 1 mg/l, Pb = 0,5 mg/l, Zn = 2 mg/l).
    • TCVN 6541:1999: Giới hạn tối đa Cu trong rau tươi ($\le 30\text{ mg/kg}$).
    • TCVN 5487:1991: Giới hạn tối đa Zn trong rau tươi ($\le 40\text{ mg/kg}$).
    • TCVN 7602:2007: Giới hạn tối đa Pb trong rau tươi ($\le 0,3\text{ mg/kg}$).
  • Xử lý số liệu: Xây dựng đường chuẩn bằng phương pháp bình phương cực tiểu, tính giới hạn phát hiện $\text{LOD} = 3S_{y/x}/b$, giới hạn định lượng $\text{LOQ} = 10S_{y/x}/b$. Xử lý thống kê đánh giá giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy theo phân phối Student ($t_\alpha = 4,303$ với độ tin cậy 95%, $\alpha = 0,05, n=3$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Giới thiệu

Chương 1 trình bày tổng quan về vai trò của rau xanh đối với dinh dưỡng con người và thực trạng đáng báo động về ô nhiễm kim loại nặng trong chuỗi thực phẩm. Tác giả nêu bật lý do lựa chọn đối tượng rau muống (Ipomoea aquatica) cùng ba nguyên tố điển hình Cu, Zn, Pb; xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu và 5 nội dung thực hiện cụ thể. Đồng thời, chương này chỉ rõ ý nghĩa khoa học trong việc làm sáng tỏ quy luật cạnh tranh ion khoáng ở thực vật và ý nghĩa thực tiễn trong việc định hướng sử dụng an toàn nguồn nước tưới nông nghiệp.

Chương 2. Tổng quan tài liệu

Chương 2 tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng:

  • Dẫn chứng số liệu ô nhiễm tại TP.HCM từ nghiên cứu của TS. Bùi Cách Tuyến: mẫu nước trồng rau muống ở Bình Chánh có hàm lượng Zn gấp 30 lần mức cho phép; mẫu rau muống ở Bình Chánh nhiễm Pb gấp 3,9 lần; nước trồng rau nhút tại Thạnh Xuân có Pb vượt từ 8,4 đến 35,4 lần mức cho phép.
  • Tổng quan tính chất lý hóa, chu trình môi trường và độc tính của Cu, Zn, Pb đối với cơ thể người và thực vật.
  • Hệ thống hóa cơ chế hấp thu kim loại qua rễ và các giai đoạn vận chuyển, tích lũy trong mô thực vật.
  • Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu của Lê Đức, Lương Thị Hồng Vân, Vũ Đình Tuấn, Phạm Ngọc Thụy về ô nhiễm Pb, Cu, Zn, Cd trong rau tại các vùng chuyên canh Hà Nội, Thái Nguyên.
  • Phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp phân tích vết kim loại (phổ hấp thụ phân tử, huỳnh quang, phát xạ nguyên tử, kích hoạt nơtron, cực phổ, von-ampe hòa tan, F-AAS) và khẳng định tính ưu việt của kỹ thuật F-AAS kết hợp phá mẫu vi sóng hệ kín.

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả chi tiết toàn bộ tiến trình thực nghiệm:

  • Đặc điểm sinh học và thành phần hóa học của rau muống tươi: nước chiếm 92%, protit 3,2%, gluxit 2,5%, xenluloza 1%, tro 1,3%.
  • Sơ đồ bố trí 4 nghiệm thức trồng rau trong thùng xốp lặp lại 3 lần ($n=3$): Đối chứng (0 ppm Pb, 1 ppm Cu, 2 ppm Zn), 1Pb (1 ppm Pb, 1 ppm Cu, 2 ppm Zn), 3Pb (3 ppm Pb, 1 ppm Cu, 2 ppm Zn), 5Pb (5 ppm Pb, 1 ppm Cu, 2 ppm Zn).
  • Danh mục hóa chất phân tích ($\text{HNO}_3\text{ } 65%$, $\text{HCl } 37%$, dung dịch chuẩn gốc 1000 mg/l) và thiết bị (cân phân tích 4 số Sartorius $d=0,1\text{ mg}$, tủ sấy chân không, lò vi sóng CEM MARXS, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử GBC Avanta).
  • Quy trình chuẩn bị mẫu, kỹ thuật tro hóa vi sóng và các thông số cài đặt thiết bị.
  • Cơ sở toán học thiết lập đường chuẩn tuyến tính, công thức tính toán LOD, LOQ, công thức thống kê Student và công thức ước lượng mức phơi nhiễm kim loại hàng ngày vào cơ thể người.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 công bố toàn bộ số liệu thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu:

  • Kết quả xây dựng đường chuẩn và thông số đo tối ưu cho Cu, Pb, Zn trên máy F-AAS.
  • Kết quả kiểm tra đất nền và nước tưới ban đầu xác nhận không bị ô nhiễm (hàm lượng đất: Pb = 15,494 mg/kg, Zn = 56,804 mg/kg, Cu = 19,429 mg/kg; nước tưới ban đầu có $\text{Zn} = 0,006\text{ mg/l}$, Cu và Pb không phát hiện).
  • Phân tích ảnh hưởng ức chế của Pb đối với sự hấp thu Cu và Zn trong rau muống sau 30 và 40 ngày trồng.
  • Đánh giá khả năng tích lũy Pb theo thời gian và nồng độ ô nhiễm; thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính giữa nồng độ Pb trong nước và hàm lượng Pb tích lũy trong rau.
  • Đánh giá hàm lượng kim loại trong rau so với TCVN 6541:1999 (Cu), TCVN 5487:1991 (Zn) và TCVN 7602:2007 (Pb).
  • Đánh giá mức độ an toàn qua khẩu phần ăn hàng ngày của người tiêu dùng.

Kết quả và đóng góp

1. Thông số đường chuẩn và độ nhạy của phương pháp F-AAS

Quá trình tối ưu hóa điều kiện đo phổ F-AAS trên thiết bị GBC Avanta đã thiết lập được các thông số kỹ thuật và đường chuẩn đạt độ tin cậy cao:

Chỉ tiêu phân tích Bước sóng ($\lambda$, nm) Cường độ dòng (mA) Khe đo (nm) Khoảng tuyến tính (mg/l) Phương trình đường chuẩn Hệ số tương quan ($R^2$) LOD (ppm) LOQ (ppm)
Đồng (Cu) 324,7 3 0,5 0,0 – 2,0 $y = 0,056x - 0,001$ 0,996 0,36 1,21
Chì (Pb) 217,0 5 1,0 0,0 – 4,0 $y = 0,027x + 0,000$ 0,999 0,14 0,47
Kẽm (Zn) 213,9 5 0,5 0,0 – 1,5 $y = 0,2498x + 0,0044$ 0,999 0,055 0,18

2. Sự ảnh hưởng của Pb trong nước tưới đến hấp thu Cu và Zn

Kết quả định lượng kim loại tích lũy trong phần thương phẩm rau muống ở các mốc thời gian 30 ngày và 40 ngày ($n=3$, độ tin cậy 95%):

Nghiệm thức Nồng độ Pb nước (ppm) Hàm lượng Cu (mg/kg rau tươi) Hàm lượng Zn (mg/kg rau tươi) Hàm lượng Pb (mg/kg rau tươi)
30 ngày 40 ngày 30 ngày 40 ngày 30 ngày 40 ngày
Đối chứng (ĐC) 0 $5,387 \pm 0,286$ $8,151 \pm 1,260$ $19,951 \pm 2,338$ $45,464 \pm 11,021$ $0,552 \pm 0,253$ $0,571 \pm 0,109$
1Pb 1 $4,280 \pm 0,787$ $7,820 \pm 0,761$ $18,591 \pm 0,179$ $43,444 \pm 12,242$ $8,549 \pm 0,652$ $14,884 \pm 4,460$
3Pb 3 $4,877 \pm 0,686$ $7,464 \pm 3,386$ $18,558 \pm 4,949$ $44,564 \pm 11,741$ $16,465 \pm 1,430$ $38,435 \pm 8,094$
5Pb 5 $5,037 \pm 0,538$ $7,457 \pm 1,456$ $18,617 \pm 0,525$ $50,793 \pm 8,785$ $30,802 \pm 7,691$ $79,415 \pm 5,135$
  • Ảnh hưởng đến hấp thu Cu: Hàm lượng Cu trong mẫu đối chứng luôn cao hơn so với các mẫu tưới nước ô nhiễm Pb ở cả hai thời điểm thu hoạch (sau 40 ngày: đối chứng đạt 8,151 mg/kg so với 7,457–7,820 mg/kg ở các lô ô nhiễm). Điều này chứng minh sự xuất hiện của kim loại không cần thiết (Pb) gây cản trở và ức chế sự hấp thu kim loại cần thiết (Cu) của thực vật.
  • Ảnh hưởng đến hấp thu Zn: Ở mốc 30 ngày, hàm lượng Zn ở các lô ô nhiễm (18,558–18,617 mg/kg) thấp hơn mẫu đối chứng (19,951 mg/kg), cho thấy Pb gây ức chế hấp thu Zn giai đoạn đầu. Đến mốc 40 ngày, lượng Zn tích lũy tăng vọt ở tất cả các lô.
  • Khả năng tích lũy Pb: Hàm lượng Pb trong rau tăng tỷ lệ thuận với nồng độ Pb trong nước tưới và thời gian nuôi trồng. Sau 40 ngày, mẫu 5Pb tích lũy tới $79,415\text{ mg/kg}$ rau tươi (tăng gấp 2,5 lần so với mốc 30 ngày). Phương trình tương quan tuyến tính giữa nồng độ Pb trong nước ($x$) và Pb trong rau ($y$):
    • Thu hoạch 30 ngày: $Y = 5,7713x + 1,1067$ ($R = 0,9923$).
    • Thu hoạch 40 ngày: $Y = 15,412x - 1,3309$ ($R = 0,9916$).

3. Đánh giá theo Tiêu chuẩn Việt Nam và ước lượng khẩu phần ăn

  • So với TCVN 6541:1999 (Cu $\le 30\text{ mg/kg}$): Tất cả các mẫu rau sau 30 và 40 ngày (4,280–8,151 mg/kg) đều nằm trong giới hạn an toàn.
  • So với TCVN 5487:1991 (Zn $\le 40\text{ mg/kg}$): Sau 30 ngày, tất cả các mẫu đều đạt chuẩn ($<20\text{ mg/kg}$). Tuy nhiên, sau 40 ngày, tất cả các lô thí nghiệm kể cả lô đối chứng ($45,464\text{ mg/kg}$) và lô 5Pb ($50,793\text{ mg/kg}$) đều vượt ngưỡng tối đa cho phép. Điều này chỉ ra rau muống có đặc tính tích lũy lượng lớn Zn tự nhiên khi kéo dài thời gian nuôi trồng.
  • So với TCVN 7602:2007 (Pb $\le 0,3\text{ mg/kg}$): Tất cả các mẫu ô nhiễm ở cả 2 lần thu hoạch (8,549–79,415 mg/kg) đều vượt ngưỡng tối đa cho phép từ hàng chục đến hàng trăm lần. Ngay cả mẫu đối chứng (0,552–0,571 mg/kg) cũng vượt chuẩn nhẹ do lượng Pb vết tự nhiên có sẵn trong đất nền ($15,494\text{ mg/kg}$).
  • Ước lượng hấp thụ hàng ngày: Hàm lượng Cu và Zn hấp thụ vào cơ thể qua khẩu phần ăn nằm trong giới hạn chấp nhận được (Zn: 0,17–0,25 mg/kg thể trọng; Cu: 0,5 mg/kg thể trọng). Tuy nhiên, hàm lượng Pb hấp thụ từ các mẫu ô nhiễm đều vượt mức chấp nhận tối đa hàng ngày ($0,0033 - 0,005\text{ mg/kg}$ thể trọng), gây nguy cơ nhiễm độc chì mạn tính nghiêm trọng.

4. Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Cảnh báo người tiêu dùng không sử dụng rau muống canh tác tại các khu vực tiếp nhận nguồn nước ô nhiễm chì hoặc gần các khu công nghiệp.
  • Khuyến cáo người trồng rau thu hoạch rau muống trong khoảng thời gian trước 30 ngày, không kéo dài đến 40 ngày nhằm tránh hiện tượng tích lũy kẽm tự nhiên vượt ngưỡng cho phép.
  • Đề xuất các cơ quan quản lý nông nghiệp kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước tưới tại các vùng ven đô TP.HCM.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện chậu xốp nhân tạo với nồng độ ion bổ sung từ muối tinh khiết, chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố tương tác phức tạp trong môi trường thủy vực tự nhiên (như bùn đáy, pH dao động, chất hữu cơ hòa tan, vi sinh vật và các cation cạnh tranh khác). Nghiên cứu chỉ tập trung vào 3 nguyên tố Cu, Zn, Pb trên một đối tượng rau muống cạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát ảnh hưởng của các kim loại nặng độc hại khác như Cadmi (Cd), Asen (As), Thủy ngân (Hg) trên nhiều đối tượng rau ăn lá và rau thủy sinh khác (rau nhút, ngó sen, kèo nèo); đồng thời khảo sát trực tiếp trên các vùng đất và nguồn nước tưới thực tế tại các huyện ngoại thành TP.HCM.

Giá trị tham khảo

Đồ án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành: Công nghệ Thực phẩm, Hóa học Phân tích, Kỹ thuật Môi trường và Khoa học Cây trồng/Nông học.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao bao gồm:

  • Quy trình chuẩn bị và phá mẫu thực vật bằng hệ vi sóng kín CEM MARXS ($1,5\text{ ml HCl } 37% + 5\text{ ml HNO}_3\text{ } 65%$, $165^\circ\text{C}$, 100 psi).
  • Bộ thông số vận hành tối ưu (bước sóng, cường độ dòng đèn HCL, bề rộng khe đo, lưu lượng khí $\text{C}_2\text{H}_2$) và phương trình đường chuẩn của Cu, Pb, Zn trên thiết bị F-AAS GBC Avanta.
  • Dữ liệu thực nghiệm về tương quan tuyến tính giữa nồng độ Pb trong nước và mức độ tích lũy sinh học trong mô rau muống qua các giai đoạn sinh trưởng 30 và 40 ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Khoảng tuyến tính, LOD và LOQ khi định lượng Pb trên thiết bị F-AAS GBC Avanta trong nghiên cứu này là bao nhiêu?
Khoảng tuyến tính của Pb được xác định từ 0,0 mg/l đến 4,0 mg/l với phương trình đường chuẩn $y = 0,027x + 0,000$ ($R^2 = 0,999$). Giới hạn phát hiện (LOD) đạt 0,14 ppm và giới hạn định lượng (LOQ) đạt 0,47 ppm.

2. Nồng độ Pb trong nước tưới ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hấp thu Cu của rau muống?
Sự hiện diện của Pb trong nước tưới gây cản trở và ức chế sự hấp thu Cu của cây rau muống. Sau 40 ngày, hàm lượng Cu trong rau ở lô đối chứng (không có Pb) đạt $8,151 \pm 1,260\text{ mg/kg}$, cao hơn rõ rệt so với các lô bị tưới nước nhiễm Pb ở nồng độ 1 ppm, 3 ppm và 5 ppm (chỉ đạt từ $7,457$ đến $7,820\text{ mg/kg}$).

3. Vì sao sau 40 ngày trồng, mẫu rau muống ở lô đối chứng (không bổ sung Pb) vẫn có hàm lượng Zn vượt giới hạn TCVN?
Sau 40 ngày, hàm lượng Zn trong mẫu đối chứng đạt $45,464 \pm 11,021\text{ mg/kg}$ rau tươi, vượt ngưỡng tối đa $40\text{ mg/kg}$ theo TCVN 5487:1991. Nguyên nhân do rau muống có đặc tính sinh học hấp thụ và tích lũy Zn rất mạnh theo thời gian phát triển của sinh khối; khi nhu cầu trao đổi chất tăng cao ở giai đoạn cây già, lượng Zn từ đất nền tự nhiên ($56,804\text{ mg/kg}$) và nước tưới nền tiếp tục được tích lũy vào mô thân lá.

4. Quy trình phá mẫu rau muống bằng lò vi sóng CEM MARXS được thiết lập với các thông số nào?
Quy trình sử dụng $0,1\text{ g}$ bột rau khô kết hợp với hỗn hợp $1,5\text{ ml HCl } 37%$ và $5\text{ ml HNO}_3\text{ } 65%$. Thiết bị vi sóng được cài đặt ở nhiệt độ $165^\circ\text{C}$, áp suất 100 psi, công suất 300 W (đối với 1–3 mẫu) hoặc 600 W (đối với 3–6 mẫu), thời gian tăng nhiệt 5 phút và thời gian giữ nhiệt 5 phút.

5. Mức độ tích lũy Pb trong thương phẩm rau muống ở các lô ô nhiễm so với tiêu chuẩn an toàn TCVN 7602:2007 như thế nào?
Tất cả các lô rau muống tưới nước ô nhiễm Pb đều có hàm lượng chì vượt xa giới hạn cho phép ($0,3\text{ mg/kg}$ rau tươi theo TCVN 7602:2007). Sau 30 ngày, hàm lượng Pb dao động từ $8,549\text{ mg/kg}$ (lô 1Pb) đến $30,802\text{ mg/kg}$ (lô 5Pb). Sau 40 ngày, mức tích lũy tăng lên $14,884\text{ mg/kg}$ (lô 1Pb) và đạt tới $79,415\text{ mg/kg}$ (lô 5Pb), vượt tiêu chuẩn từ 28 đến hơn 264 lần.


Kết luận

Đồ án tốt nghiệp đã thiết lập thành công phương pháp định lượng vết Cu, Pb, Zn trong rau muống bằng kỹ thuật F-AAS kết hợp phá mẫu vi sóng hệ kín với độ tuyến tính cao ($R^2 \ge 0,996$). Kết quả thực nghiệm khẳng định sự hiện diện của kim loại độc hại Pb trong nước tưới gây ức chế rõ rệt quá trình hấp thu các kim loại vi lượng cần thiết (Cu, Zn) của cây rau muống. Đồng thời, nghiên cứu cảnh báo mức độ tích lũy Pb trong rau muống rất cao khi nguồn nước tưới bị ô nhiễm, vượt xa giới hạn an toàn thực phẩm TCVN 7602:2007 và gây nguy cơ ngộ độc chì mạn tính cho người sử dụng qua khẩu phần ăn hàng ngày.