Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây hoa cúc 1.1 Nguồn gốc hoa cúc Lãnh giới: Eukaryota Giới: Viridiplantae Ngành: Streptophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Asterales Ho: Asteraceae Chi: Chrysanthemum Hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum indicum L. Có nguồn gốc từ Bắc ban cầu, chủ yếu là châu Âu (khu vực Địa Trung Hải, tập trung ở Algeria và quần đảo Canary) và châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản). Tên “Chrysanthemum” của hoa cúc có nguồn gốc từ tiếng Hy Lap với ‘chrysos’ (vàng) và ‘anthemon’ hoặc ‘anthos’ (hoa) được đặt cho một loại cây bởi Linnaeus năm 1753. Chúng xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 900 trước Công nguyên (vao triều đại của Vua Thutmose III).
Loài hoa này phổ biến ở Phương Đông đến nỗi người Trung Quốc đã đặt tên cho một thành phố là Chu-hsien, có nghĩa là Thành phố Hoa Cúc. Ở Nhật Bản còn được xem như là một loại hoa quý, là một biểu tượng quốc gia của Nhật Bản (Quốc hoa) thường được dùng trong các buổi lễ quan trọng, người Nhật Ban coi cúc là người bạn tâm tình (Đặng Văn Đông và cs, 2003). Năm 1689, Breynius người Hà Lan đã viết một quyên sách về hoa cúc và tin rằng ông là người Châu Âu đầu tiên đề cập đến loại hoa này. Tuy nhiên giống hoa cúc ông đề cập đã chết.
Năm 1789, Louis Pierre Blanchard đem một giống hoa cúc lớn từ Trung Quốc vào Pháp và năm 1795 giống này được đưa đến Anh. Giống hoa cúc này được xem là giông hoa cúc đâu tiên tại Châu Au. Ở Việt Nam hoa cúc được du nhập từ thé kỉ XV, dan khang định được vi trí quan trọng của chúng đối với đời sống con người Việt Nam và được coi la biểu hiện của sự thanh cao, là một trong bồn loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý “Tùng, Cúc, Trúc, Mai” hoặc “Mai, Lan, Trúc, Cúc” (Trương Hưu Tuyên, 1979). Sự da dạng về màu sắc (trắng, vàng, xanh, đỏ, cam tím) cùng với kiểu hoa độc đáo đã đáp ứng được yêu cầu của hầu hết người tiêu dùng Việt, được lựa chọn dé trung bay trong những dip lễ Tết va còn được sử dung làm hương liệu hoặc dùng làm các vị thuốc an thần, giải nhiệt, tim mạch.2 Đặc điểm thực vật học cây hoa cúc Hoa cúc thuộc lớp hai lá mầm (Dycotyleone) trong hệ thống phân loại thực vật.1 Rễ Rễ của cây hoa cúc là rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang, ít ăn sâu phân bố ở tầng đất mặt từ 5 - 20 cm.
Kích thước các rễ trong bộ rễ hoa cúc chênh lệch nhau không nhiều, khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút do vậy khả năng hút nước và dinh dưỡng rất mạnh. Những rễ này không phát sinh từ mầm rễ của hạt, mà từ những rễ mọc ở mau của thân hay còn gọi là ở mắt, ở những phan sát trên mặt đất (Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hong Lan, 2018).2 Thân Cây thuộc thân thảo nhỏ, cây dang đứng hoặc bò. Chiều cao cây, kích thước thân, mức độ phân cành, cành cứng hay mềm sẽ phụ thuộc lớn vào từng giống và thời vụ trồng. Những giống nhập nội thân thường to, mập, thắng ngược lại những giống cúc dại hay giống cổ truyền Việt Nam thân nhỏ mảnh và cong.
Chiều cao cây, đốt dai hay ngắn, độ mềm hoặc cứng, sự phân cành mạnh hay yếu phụ thuộc rất lớn vào đặc tính đi truyền của giống (Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2018).3 Lá Dang lá đơn, mọc so le nhau, ban lá xẻ thùy lông chim, phiến lá mềm mỏng có thé to hay nhỏ, màu sắc xanh đậm hay nhạt phụ thuộc vao từng giống hoặc thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Mặt dưới phiến lá bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẫn, gân hình mạng. Từ một nách lá thường phát sinh một mầm nhánh (Pham Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2018).4 Hoa Hoa lưỡng tính hoặc hoa đơn tính có nhiều màu sắc khác nhau (trắng, vàng, đỏ, xanh, tím). Hoa kép nhiều hơn hoa đơn và thường mọc nhiều hoa trên một cành phát sinh từ các nách lá.
Hình dạng hoa cúc đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng, mỗi cánh thực chất là một tràng hoa. Tràng hoa dính vào bầu như hình cái ống, trên ống đó phát sinh cánh hoa. Những cánh hoa nằm ở phía ngoài thường sẽ có màu đậm hơn và được xếp thành từng vòng sát nhau chặt hay lỏng tuỳ thuộc vào mỗi giống. Cánh hoa có nhiều hình đáng khác nhau cong hoặc thang, có loại cánh ngắn, có loại đài, cuốn ra ngoài hay cuốn vào trong.
Ở phía ngoài có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa. Đường kính của bông hoa phụ thuộc vào giống, giống hoa to có đường kính 10 - 12 cm, loại trung bình 5 - 7 cm và loại nhỏ 1 - 2 cm (Phạm Thị Minh Tâm va Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2018).5 Quả Quả khô chỉ chứa một hạt. Hạt có phôi thắng không có nội nhũ (Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2018).3 Phân loại hoa cúc Theo Lê Kim Biên (2007), khi nghiên cúc phân loại họ cúc cho thấy riêng chi Chrysanthemum L. (đại cúc) tại Việt Nam có 5 loài, 200 loài trên thé giới và có khoảng 1000 giống.
- Cúc trừ trùng - Chnysanthemum cinerariaefolium: thân thảo, cao khoảng 50 - 60 cm. Thân mọc thang, hoá gỗ phan dưới, tròn, có khía dọc, có lông tơ. Lá mọc so le, thon hẹp về phía gốc, chia thuỳ sâu, các thuỳ tạo thành những răng to nhọn và không đều. Hoa cánh hợp, các hoa phía ngoài hình lưỡi, màu trắng.
Các hoa ở giữa hình ống, màu vàng. Các dau hoa hoặc ré là nguyên liệu đê chê biên thuộc trừ sâu sinh hoc. - Cúc mâm xôi, cúc dai doa - Chrysanthemum morifolium: Cây thân bụi, chiều cao 30 - 50 cm, lá khía răng cưa, hoa màu vàng có nhiều nụ. Có nguồn gốc từ Trung Quốc, tại Việt Nam được trồng nhiều ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, thường được dùng làm thuốc và cây cảnh.
- Cúc trắng lớn, cúc daisy - Chrysanthemum maximum Ramond: Cây thân thảo nhiều năm, cao khoảng 70 - 100 cm, có nguồn gốc từ Châu Âu, được trồng rộng rãi trên thê giới với mục đích làm hoa cắt cành và hoa trông chậu. - Cúc vàng - Chrysanthemum indicum L.: cây dạng thân cỏ, mọc đứng. Phổ biến ở Châu Á. Thân có khía và có lông ngắn.
Lá nhọn hình trái xoan, chia thuỳ nhiều răng đầu hoa màu vàng, cuống ngắn. Cúc hoa vàng vị ngọt hơi đắng nên có tác dụng trong chế biến dược liệu.4 Điều kiện ngoại cảnh cây hoa cúc 1.1 Nhiệt độ Cây hoa cúc có nguồn gốc từ ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây cúc sinh trưởng và phát triển là 15 - 20°C. Cúc có thé chịu được nhiệt độ thấp hơn (10 - 12°C) và cao hơn (30 - 35°C) nhưng thường ở nhiệt độ này sẽ làm cho cây cúc sinh trưởng phát triển kém. Theo Rijsdijk và Vogelezang (2000), nhiệt độ ảnh hưởng tới tộc độ phát triển nụ và thúc đây quá trình nở hoa.
Ở thời kì cây con, cây cúc yêu cầu nhiệt độ cao hơn các giai đoạn khác, ban ngày cao hơn ban đêm. Đặc biệt ở giai đoạn ra hoa nếu đảm bảo yêu cầu nhiệt độ cần thiết của cúc thì hoa sẽ to và đẹp. Nhiệt độ thích hợp cho sự hình thành hoa từ 16 - 18°C vào ban đêm. Nhiệt độ ban đêm quá cao (>22°C) hoặc quá thấp (<15°C) sẽ trì hoạn sự hình thành hoa (Cathey, 1954; Cockshull, 1979; Crater, 1980; Whealey và cs 1987).2 Độ âm Cúc là cây trồng cạn, không chịu được ngập úng và cũng chịu hạn kém.
Âm độ đất từ 60 - 70%, âm độ không khí 55 - 65% là thích hợp cho cúc sinh trưởng. Cúc có thể chịu âm độ 80 - 90% với điều kiện trong thời gian ngắn, nếu trong thời gian dai cây dé 4 bị nắm bệnh xâm nhập, làm cho hoa dé bị thối nát, cây dé bị đỗ non, gây khó khăn cho việc thu hoạch. Thời kì thu hoạch thì cần thời tiết khô ráo. Nếu âm độ kém thì cúc có thể vàng lá (Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2018).3 Ánh sáng Ở mỗi thời kì sinh trưởng và phát triển cây có yêu cầu ánh sáng khác nhau.
Thời kì cây mới ra rễ thì cần ít ánh sáng. Khi hạt hoặc hom hết chất dinh dưỡng dự trữ thì cây con chuyên sang sống tự dưỡng nên cần nhiều ánh sáng dan lên. Thời kỳ phân cành, cây cúc cần nhiều ánh sáng dé quang hợp tạo nên chất hữu cơ duy trì hoạt động sống cho cây (Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan, 2018). Theo Cathey và Borthwick (1964), cúc là cây ngày ngắn.
Điều này có ý nghĩa là cây cúc ra hoa trong điều kiện quang chu kỳ ngắn. Đề sinh trưởng thân lá thì cây cúc cần ánh sáng ngày đài, thời gian ánh sáng cần trong ngày là 13 giờ. Thời kì phân bố mam hoa tốt nhất là 10 - 11 giờ ánh sáng trong ngày với nhiệt độ trên dưới 20°C. Thời gian chiếu sáng kéo dai thì thời gian sinh trưởng của cây hoa cúc dai hơn, thân, hoa cũng lớn hơn.
Thời gian chiếu sáng ngắn sẽ kích thích phân hoá mầm hoa sớm, cây ngắn. Do vậy, tuỳ vào mục đích sử dụng và yêu cầu về chiều cao cây thì có sự điều chỉnh ánh sáng phù hợp (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Vào mùa hè nên chiếu ánh sáng bồ sung hiệu quả nhất là từ 22 giờ đêm đến 2 giờ sáng. Tuy theo mùa va giống, giai đoạn chiếu sáng bổ sung có thé kéo đài từ 10 - 25 ngày (Carvalho, 2003).5 Dinh dưỡng Cây cúc thích hợp với đất thịt màu mỡ, thoát nước, pH từ 6 - 7.
Yêu cầu về đạm (N): có vai trò quan trong, cây cúc cần nhiều đạm ở giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây (từ cây con đến phân hoá mầm hoa). Nếu thiếu đạm hoa can côi, lá Ga vàng, hoa nhỏ và xau. Nếu thừa đạm cành nhánh phát triển nhiều, chủ yếu nuôi thân có thê không cho hoa. Lượng đạm cây cần cho 1 ha từ 140 - 160 kgN.
Yêu cầu về lân (P): giúp cho bộ rễ chắc khoẻ, thân cứng, tăng khả năng hấp thụ đạm, đầy nhanh quá trình ra hoa, giúp hoa bền có màu đẹp. Cây hoa cúc có nhu cầu lân cao trong thời kì phân hoá mầm hoa. Lượng lân cây cần cho 1 ha từ 120 - 140 kg P2Os. Yêu cầu phân kali (K): giúp cho cây tông hợp chất dinh dưỡng, tăng khả năng chống chịu, khả năng phòng chống sâu bệnh.
Giúp lá quang hợp tốt, thân cứng, hoa đẹp, bền mau.