Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, vừa cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, vừa có vai trò cải tạo độ phì nhiêu của đất nhờ khả năng cộng sinh cố định đạm khí trời với vi khuẩn nốt sần. Dữ liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy năng suất đậu phụng trung bình của Việt Nam giai đoạn 2019 trở lại đây còn ở mức thấp, xấp xỉ 25 tạ/ha. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tác động bất lợi của điều kiện môi trường tự nhiên, đặc tính đất bạc màu và các yếu tố dịch hại sinh học lẫn phi sinh học.

Bên cạnh các biện pháp chọn tạo giống và hoàn thiện quy trình canh tác, công nghệ nano ứng dụng trong phân bón lá (đặc biệt là hạt nano kim loại và khoáng đa, trung, vi lượng) đang mở ra hướng tiếp cận triển vọng nhằm tối ưu hóa quá trình quang hợp, kích hoạt hệ thống enzyme chống oxy hóa và nâng cao hiệu suất hấp thu dinh dưỡng. Trên cơ sở đó, đề tài "Ảnh hưởng nồng độ chế phẩm phun lá nano lên sinh trưởng và năng suất cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.) trồng trên đất xám Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện bởi sinh viên Phan Thị Nữ, chuyên ngành Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (2023).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Xác định nồng độ chế phẩm phun lá nano tối ưu giúp cây đậu phụng sinh trưởng khỏe, đạt năng suất hạt cao và mang lại hiệu quả kinh tế trên đất xám bạc màu.
  2. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng đúng quy phạm phương pháp nghiên cứu nông học.
  3. Theo dõi, đo đạc và phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng sinh dưỡng, chỉ tiêu sinh lý nốt sần, mức độ phát sinh dịch hại, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu.
  4. Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức nồng độ nano xử lý qua lá.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống đậu phụng L14 kết hợp chế phẩm dinh dưỡng nano vi lượng đa chức năng do PGS.TS Hà Phương Thư tổng hợp.
  • Phạm vi không gian: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, khu vực đất xám bạc màu thuộc thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Thực nghiệm đồng ruộng triển khai từ tháng 02/2023 đến tháng 05/2023.
  • Giới hạn nghiên cứu: Đề tài khảo nghiệm trên một giống L14 duy nhất; tập trung đánh giá sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế sơ bộ; chưa phân tích các chỉ tiêu chất lượng hạt chuyên sâu như hàm lượng lipid, protein tổng số, thành phần axit amin hay hàm lượng vitamin.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung cơ sở lý thuyết của khóa luận dựa trên đặc tính thực vật học của cây đậu phụng (Arachis hypogaea L.), sinh lý dinh dưỡng khoáng qua lá và cơ chế hấp thu vật liệu nano trong nông nghiệp. Chế phẩm nano vi lượng sử dụng trong nghiên cứu được điều chế theo quy trình tích hợp của PGS.TS Hà Phương Thư (2022), bao gồm cấu trúc tổ hợp NPK – Hydroxyapatite kết hợp dung dịch hạt nano kim loại (Ag, Fe, Cu, Co, Zn) được điều chế bằng phương pháp hóa học khử bằng tác nhân NaBH4, sau đó cố định trong hệ gel mang giữ nước hữu cơ alginate và carboxyl methyl cellulose (CMC).

Thành phần nguyên tố của chế phẩm dinh dưỡng nano tính theo phần trăm khối lượng (% w/w) được công bố trong văn bản gồm:

  • Đa lượng và trung lượng: N (12,00%), P (3,46%), K (5,50%), Ca (10,80%), S (6,30%), Si (2,28%), Mg (1,36%).
  • Vi lượng hạt nano: Fe (0,69%), Zn (0,56%), Cu (0,34%), Co (0,23%), Ag (0,22%).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được thiết kế theo khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) gồm 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại (tổng số 15 ô thí nghiệm).
    • NT1 (Đối chứng - ĐC): Phun nước lã (nồng độ 0%).
    • NT2: Phun chế phẩm nano nồng độ 0,5%.
    • NT3: Phun chế phẩm nano nồng độ 1,0%.
    • NT4: Phun chế phẩm nano nồng độ 1,5%.
    • NT5: Phun chế phẩm nano nồng độ 2,0%.
  • Kỹ thuật tác động: Chế phẩm pha loãng với nước theo tỷ lệ thể tích (pha trong 200 ml nước/ô thí nghiệm diện tích 9 m²), phun 2 lần vào các thời điểm 15 ngày sau gieo (NSG) và 30 NSG vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.
  • Nền phân bón cơ bản: Bón đồng đều trên toàn khu thí nghiệm lượng phân hóa học quy đổi gồm 40 kg N – 90 kg P2O5 – 60 kg K2O/ha (tương đương 87 kg Urea, 562,5 kg Super lân, 100 kg KCl), kết hợp 500 kg vôi bột (56% CaO) và 5 tấn phân chuồng hoai mục/ha.
  • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng:
    • Khảo nghiệm giá trị canh tác và chỉ tiêu nông học: Theo QCVN 01-57:2011/BNN&PTNT.
    • Phương pháp điều tra, theo dõi mức độ gây hại của sâu bệnh: Theo QCVN 01-168:2014/BNN&PTNT.
  • Nguồn số liệu và đo đạc thực địa: Mẫu đất trước gieo được phân tích tại Bộ môn Khoa học đất - Phân bón (Khoa Nông học); số liệu khí tượng do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ cung cấp; hàm lượng diệp lục lá đo bằng máy SPAD-502 (Konica Minolta, Nhật Bản).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Tổng hợp trên Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng trung bình LSD ở các mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 và p < 0,01 bằng phần mềm R.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây đậu phụng. Cây có nguồn gốc từ Nam Mỹ, thuộc chi Arachis, bộ nhiễm sắc thể tự thụ tứ bội 2n = 4x = 40. Các đặc điểm về hệ rễ cọc cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium vigna, đặc tính ra hoa, thụ phấn và quá trình đâm tia tạo quả dưới mặt đất được phân tích chi tiết. Vi khuẩn nốt sần hoạt động mạnh nhất ở giai đoạn ra hoa, đâm tia và bắt đầu tạo quả, có khả năng cố định từ 72 - 124 kg N/ha/năm.

Chương này cũng tổng hợp tình hình nghiên cứu công nghệ nano trong nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam. Các nghiên cứu quốc tế (Prasad, 2012; Maslobrod, 2013; Jankowski, 2013) ghi nhận phân bón lá nano kẽm, sắt, đồng, coban giúp cải thiện sinh thái rễ, tăng tích lũy sinh khối và nâng cao hoạt tính enzyme chống oxy hóa. Tại Việt Nam, nhiều công trình của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã chế tạo hạt nano Ag, Fe, Cu, Co phục vụ kích thích nảy mầm hạt giống ngô, đậu nành và kháng nấm gây bệnh hại cây trồng. Tác giả chỉ ra rằng việc khảo sát nồng độ phun lá chế phẩm nano vi lượng trên cây đậu phụng tại vùng đất xám Đông Nam Bộ vẫn chưa có nhiều báo cáo thực nghiệm đồng ruộng chi tiết.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên khu vực thực nghiệm, vật liệu nghiên cứu và quy trình thao tác kỹ thuật. Đất thí nghiệm có thành phần cơ giới nhẹ (82% cát, 10% thịt, 8% sét - thuộc loại đất cát pha thịt), phản ứng chua vừa đến chua mạnh (pH_H2O = 5,7; pH_KCl = 3,9), hàm lượng chất hữu cơ (OM = 1,21%) và đạm tổng số (0,05%) đều ở mức nghèo kiệt, hàm lượng lân dễ tiêu đạt mức trung bình khá (13,1 mg P2O5/100 g đất).

Chỉ tiêu phân tích đất Phương pháp thử nghiệm Đơn vị Giá trị
pH H2O (tỷ lệ 1:5) TCVN 5979:2007 - 5,7
pH KCl (tỷ lệ 1:5) TCVN 4401:1987 - 3,9
Chất hữu cơ (OM) TCVN 8941:2011 % 1,21
Đạm tổng số (N) TCVN 6498:1999 % 0,05
Lân dễ tiêu (P2O5 hh) TCVN 8942:2011 mg/100 g 13,1
Thành phần Cát Phương pháp tỷ trọng kế % 82,0
Thành phần Thịt Phương pháp tỷ trọng kế % 10,0
Thành phần Sét Phương pháp tỷ trọng kế % 8,0

Điều kiện thời tiết giai đoạn tháng 02/2023 đến 05/2023 có nhiệt độ trung bình từ 28,2 - 30,4°C, độ ẩm không khí 71 - 78%, nắng nhiều trong các tháng 02 và 03 (tổng giờ nắng đạt 198,3 - 246,8 giờ/tháng), lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng 05 (213,6 mm). Quy mô ruộng thí nghiệm có diện tích mỗi ô là 9 m² (6,0 m x 1,5 m), mật độ gieo 400.000 cây/ha (khoảng cách 25 cm x 20 cm, 2 hạt/hốc), tổng diện tích tính cả dải bảo vệ là 250 m². Chương này xác định chuẩn hóa các phương pháp lấy mẫu 10 cây/ô để theo dõi chiều cao cây, số lá thân chính, kích thước phiến lá, số cành cấp 1, số nốt sần, mức độ bệnh hại và cơ cấu năng suất.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu đo đạc thực nghiệm và thảo luận kết quả theo các nội dung sinh lý, sinh trưởng, bảo vệ thực vật, năng suất và kinh tế:

  • Thời gian sinh trưởng và phát triển: Nghiệm thức phun nồng độ 1,5% nano (NT4) giúp cây bắt đầu phân cành sớm nhất (9,3 NSG) và nở hoa sớm nhất (21,0 NSG). Ngược lại, nghiệm thức 0,5% nano (NT2) phân cành chậm nhất (14,6 NSG), nghiệm thức 1,0% nano (NT3) ra hoa muộn nhất (25,3 NSG). Thời gian sinh trưởng từ gieo đến thu hoạch dao động từ 90,3 ngày (ở mức nano 2,0%) đến 102,3 ngày (ở mức nano 0,5%), nghiệm thức đối chứng đạt 98,3 ngày.

  • Động thái tăng trưởng thân lá:

    • Chiều cao cây tăng nhanh từ 15 đến 55 NSG và chững lại sau 65 NSG. Tại thời điểm 65 NSG, cây ở nghiệm thức NT3 (1,0% nano) đạt chiều cao lớn nhất (64,5 cm), trong khi NT5 (2,0% nano) cho chiều cao thấp nhất (56,9 cm). Chiều cao cây có xu hướng tăng từ 0,5% đến 1,0% nhưng bắt đầu giảm dần ở các mức nồng độ 1,5% và 2,0%.
    • Số lá trên thân chính tại 65 NSG biến động từ 12,5 đến 14,7 lá/cây, nghiệm thức NT2 (0,5% nano) có số lá nhiều nhất (14,7 lá), sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (12,5 lá).
    • Chiều dài và chiều rộng lá đạt giá trị cực đại tại thời điểm 60 NSG: Chiều dài lá lớn nhất ở nồng độ 1,5% và 2,0% (cùng đạt 6,9 cm so với đối chứng 6,2 cm); chiều rộng lá lớn nhất ở nồng độ 1,5% và 2,0% (đạt 4,5 cm so với đối chứng 4,3 cm).
    • Chiều rộng tán ở 60 NSG lớn nhất tại nghiệm thức 1,0% nano (41,1 cm) và hẹp nhất tại nghiệm thức 0,5% nano (35,8 cm).
    • Chỉ số diệp lục SPAD: Tại 30 NSG, đối chứng có giá trị cao nhất (43,7 SPAD); đến 60 NSG, chỉ số SPAD giảm trên tất cả nghiệm thức xuống mức 27,1 - 36,1 do cây chuyển hướng dinh dưỡng sang giai đoạn sinh thực.
    • Số cành cấp 1: Nghiệm thức NT4 (1,5% nano) phát triển số cành cấp 1 nhiều nhất, đạt 8,0 cành/cây, vượt trội rõ rệt so với đối chứng (chỉ đạt 2,7 cành/cây).
  • Khả năng hình thành nốt sần rễ:

    • Ở giai đoạn 30 NSG, nghiệm thức NT4 (1,5% nano) cho tổng số nốt sần cao nhất (46,6 nốt/cây), nghiệm thức NT3 (1,0% nano) đạt tỷ lệ nốt sần hữu hiệu cao nhất (70,8%). Nồng độ nano 2,0% gây ức chế số lượng nốt sần rõ rệt, chỉ đạt 30,1 nốt/cây và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu chỉ còn 33,4%.
    • Ở giai đoạn 60 NSG, tổng số nốt sần tăng lên mức 43,4 - 57,9 nốt/cây. Nghiệm thức NT3 (1,0% nano) đạt tổng nốt sần cao nhất (57,9 nốt/cây), nghiệm thức NT5 (2,0% nano) đạt tỷ lệ nốt sần hữu hiệu cao nhất (80,5%).
Chỉ tiêu nốt sần NT1 (ĐC) NT2 (0,5%) NT3 (1,0%) NT4 (1,5%) NT5 (2,0%) CV (%)
Giai đoạn 30 NSG
Tổng số nốt sần (nốt/cây) 44,1 38,7 36,1 46,6 30,1 24,9
Số nốt sần hữu hiệu (nốt/cây) 23,4 19,8 25,6 29,2 8,8 22,2
Tỷ lệ nốt sần hữu hiệu (%) 53,0 51,1 70,8 64,8 33,4 30,2
Giai đoạn 60 NSG
Tổng số nốt sần (nốt/cây) 56,6 43,4 57,9 52,3 57,8 15,0
Số nốt sần hữu hiệu (nốt/cây) 46,7 36,7 47,1 40,2 47,9 18,1
Tỷ lệ nốt sần hữu hiệu (%) 79,7 78,9 75,8 60,0 80,5 17,0
  • Diễn biến dịch hại trên đồng ruộng:

    • Sâu hại xuất hiện ở thời điểm 35 NSG ở mức nhẹ đến trung bình: Mật số sâu khoang (Spodoptera litura) dao động từ 1,8 - 10,2 con/m² (thấp nhất ở NT2 với 1,8 con/m²); sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) biến động từ 10,0 - 21,3 con/m² (thấp nhất ở NT2 với 10,0 con/m²). Dịch hại được khống chế nhờ thiên địch và biện pháp thủ công bắt tay.
    • Bệnh hại: Bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) có tỷ lệ nhiễm 1,6 - 9,0%; bệnh thối đen cổ rễ (Aspergillus niger) nhiễm nhẹ từ 0,3 - 1,1%; bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola) tại 45 NSG gây hại 3,9 - 10,1%; bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) tại 65 NSG ở mức 1,2 - 5,5%; bệnh gỉ sắt (Puccinia arachidis) xuất hiện tại 90 NSG với tỷ lệ nhiễm 10,2 - 20,9%.
  • Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt:

    • Tổng số quả trên cây dao động từ 7,2 đến 13,7 quả; nghiệm thức NT4 (1,5% nano) đạt cao nhất với 13,7 quả/cây, cao gần gấp đôi đối chứng (7,2 quả/cây).
    • Số quả chắc trên cây ở nghiệm thức NT4 (1,5% nano) đạt giá trị cao nhất là 11,9 quả/cây, vượt trội so với NT3 (7,6 quả), NT2 (7,3 quả) và đối chứng (5,1 quả). Tỷ lệ quả chắc của NT4 đạt đỉnh 87,2% (đối chứng là 70,3%).
    • Số quả 1 hạt dao động 3,4 - 5,2 quả (NT4 cao nhất với 5,2 quả); số quả 2 hạt đạt cao nhất ở NT4 với 8,5 quả (đối chứng chỉ đạt 3,8 quả).
    • Năng suất thực thu toàn vụ dao động trong khoảng 1,8 - 3,1 tấn/ha. Nghiệm thức NT4 (1,5% nano) cho năng suất thực thu cao nhất đạt 3,1 tấn/ha, sai khác có ý nghĩa thống kê so với tất cả các nghiệm thức còn lại.
Nghiệm thức Nồng độ phun Tổng số quả (quả/cây) Số quả chắc (quả/cây) Tỷ lệ quả chắc (%) Năng suất thực thu (tấn/ha)
NT1 (ĐC) 0% 7,2 5,1 70,3 1,8
NT2 0,5% 9,6 7,3 75,1 -
NT3 1,0% 10,2 7,6 75,6 -
NT4 1,5% 13,7 11,9 87,2 3,1
NT5 2,0% 11,5 9,8 77,6 -
  • Hiệu quả kinh tế sơ bộ: Phân tích tài chính cho thấy nghiệm thức xử lý nano nồng độ 1,5% mang lại tổng lợi nhuận cao nhất trong các nghiệm thức, đạt 63,1 triệu đồng/ha/vụ. Trong khi đó, xét về tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn đầu tư, nghiệm thức xử lý nano 0,5% đạt tỷ suất lợi nhuận cao nhất là 1,0.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu rút ra các kết quả cụ thể và đóng góp khoa học gắn liền với số liệu thực nghiệm:

  1. Đã lượng hóa được phản ứng sinh lý và hình thái của giống đậu phụng L14 trước các mức nồng độ chế phẩm nano vi lượng khác nhau trên đất xám. Xử lý phun lá ở nồng độ 1,5% nano mang lại hiệu ứng kích thích tăng trưởng tối ưu về số cành cấp 1 (8,0 cành/cây), thúc đẩy ra hoa sớm (21,0 NSG) và tối đa hóa số quả chắc (11,9 quả/cây, tỷ lệ quả chắc 87,2%).
  2. Nồng độ chế phẩm 1,5% giúp gia tăng vượt bậc năng suất thực thu của đậu phụng, đạt đỉnh 3,1 tấn/ha trên vùng đất xám bạc màu vốn có độ phì tự nhiên thấp (đối chứng chỉ đạt 1,8 tấn/ha), tương ứng mức lợi nhuận 63,1 triệu đồng/ha/vụ.
  3. Văn bản chứng minh nồng độ nano có ngưỡng tác động giới hạn: Nồng độ tăng từ 0,5% đến 1,5% giúp cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu cấu thành năng suất; tuy nhiên, khi nâng nồng độ lên 2,0%, chiều cao cây bị suy giảm (còn 56,9 cm ở 65 NSG), số nốt sần giai đoạn 30 NSG giảm mạnh (còn 30,1 nốt/cây) và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu sụt giảm nghiêm trọng xuống 33,4%.
  4. Về mặt ứng dụng thực tiễn, tác giả đã cung cấp công thức bổ sung dinh dưỡng qua lá bằng hạt nano vi lượng tích hợp NPK-hydroxyapatite thay thế một phần phương thức bón phân truyền thống, giúp nâng cao hiệu quả canh tác đậu phụng tại vùng ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được tác giả tự xác định một số hạn chế theo phạm vi đề tài:

  • Khảo nghiệm chỉ tiến hành trên một giống đậu phụng duy nhất (L14) trong một vụ duy nhất (từ tháng 02/2023 đến tháng 05/2023), chưa khảo nghiệm qua nhiều mùa vụ để đánh giá ảnh hưởng của biến thiên thời tiết liên năm.
  • Thí nghiệm mới dừng lại ở việc đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng ngoài đồng, cấu thành năng suất và tính toán hiệu quả kinh tế sơ bộ; chưa phân tích các chỉ tiêu sinh hóa phẩm chất nông sản sau thu hoạch gồm hàm lượng dầu béo, hàm lượng protein tổng số, thành phần axit amin và các nhóm vitamin trong nhân đậu.
  • Chưa khảo sát sâu sự tồn dư của các hạt nano kim loại (Ag, Fe, Cu, Co, Zn) trong hạt đậu phụng thương phẩm và trong môi trường đất xám sau thu hoạch nhằm đánh giá đầy đủ tính an toàn sinh học.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Tiếp tục mở rộng thử nghiệm chế phẩm nano trên nhiều giống đậu phụng triển vọng khác nhau và lặp lại trên nhiều chân đất chuyên canh đậu phụng tại các tỉnh Đông Nam Bộ.
  • Bổ sung các phân tích phòng thí nghiệm về chất lượng nhân hạt (dầu, đạm, vi lượng tồn dư) để hoàn thiện gói kỹ thuật canh tác đậu phụng an toàn sinh học bằng công nghệ nano.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ kỹ thuật thuộc các chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật và Công nghệ Sinh học Nông nghiệp.

Các phần có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:

  • Toàn bộ quy trình điều chế chế phẩm nano vi lượng kết hợp NPK và alginate (tại mục 1.2 và 2.3) của nhóm nghiên cứu vật liệu nano.
  • Phương pháp luận thiết kế thí nghiệm đồng ruộng RCBD và cách thức theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng rễ, nốt sần cộng sinh Rhizobium, hệ thống tiêu chí sâu bệnh theo các Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN 01-57:2011 và QCVN 01-168:2014/BNN&PTNT).
  • Bộ dữ liệu thực tế về đặc tính lý hóa đất xám Thủ Đức và các chỉ số thống kê nông học chi tiết, phục vụ đối sánh cho các đề tài canh tác cây họ Đậu trên vùng đất cát pha thịt bạc màu.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần nguyên tố định lượng có trong chế phẩm phun lá nano gồm những chất nào?
Chế phẩm nano đa chức năng được tổng hợp từ hỗn hợp NPK - Hydroxyapatite kết hợp dung dịch vi lượng nano Ag, Fe, Cu, Co, Zn trên chất mang alginate. Tỷ lệ phần trăm khối lượng (% w/w) gồm: N (12,00%), Ca (10,80%), S (6,30%), K (5,50%), P (3,46%), Si (2,28%), Mg (1,36%), Fe (0,69%), Zn (0,56%), Cu (0,34%), Co (0,23%) và Ag (0,22%).

2. Nồng độ phun nano nào cho hiệu quả sinh trưởng và năng suất hạt tốt nhất?
Nồng độ chế phẩm 1,5% (nghiệm thức NT4) cho hiệu quả vượt trội nhất: số cành cấp 1 đạt 8,0 cành/cây, tổng số quả chắc đạt 11,9 quả/cây, tỷ lệ quả chắc đạt 87,2%, và năng suất thực thu cao nhất toàn thí nghiệm với 3,1 tấn/ha (khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng 1,8 tấn/ha).

3. Việc tăng nồng độ chế phẩm lên mức 2,0% ảnh hưởng như thế nào đến cây đậu phụng?
Khi tăng nồng độ lên 2,0% (nghiệm thức NT5), xuất hiện hiện tượng ức chế tăng trưởng thân lá và rễ: chiều cao cây ở 65 NSG giảm xuống mức thấp nhất (56,9 cm); ở 30 NSG, tổng số nốt sần giảm xuống chỉ còn 30,1 nốt/cây và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu suy giảm mạnh chỉ còn 33,4% (so với 64,8% ở nồng độ 1,5% và 70,8% ở nồng độ 1,0%).

4. Hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức chênh lệch ra sao?
Ô thí nghiệm xử lý nồng độ 1,5% mang lại lợi nhuận tuyệt đối cao nhất, đạt 63,1 triệu đồng/ha/vụ nhờ năng suất hạt thực thu vượt trội. Tuy nhiên, xét về tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận trên tổng chi phí), nghiệm thức nồng độ 0,5% đạt giá trị cao nhất là 1,0.

5. Đất thực nghiệm tại Thủ Đức có những đặc tính lý hóa chủ yếu nào?
Khu đất có thành phần cơ giới là cát pha thịt với 82% cát, 10% thịt và 8% sét; phản ứng đất thuộc nhóm chua (pH_H2O = 5,7; pH_KCl = 3,9); hàm lượng chất hữu cơ rất nghèo (OM = 1,21%); hàm lượng đạm tổng số rất thấp (0,05%) và hàm lượng lân dễ tiêu đạt mức trung bình khá (13,1 mg P2O5/100 g đất).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Nữ đã khảo nghiệm thành công ảnh hưởng của 5 mức nồng độ chế phẩm phân phun lá nano lên sinh trưởng và năng suất giống đậu phụng L14 trên đất xám bạc màu tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Kết quả thực nghiệm chứng minh nồng độ nano 1,5% là mức xử lý tối ưu, giúp cây ra hoa sớm, phát triển mạnh số cành cấp 1, tối ưu hóa tỷ lệ quả chắc (87,2%) và nâng cao năng suất thực thu đạt 3,1 tấn/ha cùng mức lợi nhuận 63,1 triệu đồng/ha/vụ. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và quy trình kỹ thuật phun lá nano có giá trị ứng dụng cao cho sản xuất đậu phụng trên các chân đất nghèo dinh dưỡng.