CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây đậu phụng 1.1 Nguồn gốc và phân loại thực vật Đậu phụng (Arachis hypogaea L.) là cây họ Đậu thuộc họ cánh bướm (Fabacecae). Chi Arachis và có đến 70 loài khác nhau. Số nhiễm sắc thé đặc trưng cho các giống khác nhau của loài Arachis hypogaea ở cây tứ bội tự thụ là 2n = 4x = 40, số nhiễm sắc thé căn bản n = 10 (Krapovickas và Gregory, 1994). Có nhiều quan điểm về phân loại khác nhau: đặc tinh di truyền nhiễm sắc thé; kết hợp giữa đặc tinh di truyền nhiễm sắc thé với đặc điểm của rễ và đường vân cánh cờ; đặc tính thực vật học của thân, hạt, quả, dạng cây và kết hợp với tính ngủ, thời gian sinh trưởng dé phân đậu phụng ra thành nhóm, phân nhóm.
Qua nhiều thập kỷ, các lĩnh vực khoa học khác nhau như khảo cổ học, thực vật học, văn học dân gian đã ghi nhận cây đậu phụng có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Cây đậu phụng được trồng ở lưu vực sông Amazon thuộc Peru. Năm 1877, Skie đã tìm thấy quả đậu phụng trong ngôi mộ thời Ancon (thủ đô Pêru). Ngoài ra người ta còn thấy đậu phụng được trồng rất sớm ở Mexico, Braxin, Bolivia.
Theo Krapovikat (1986), “Arachis hypogaea có nguồn gốc từ Bolivia tại các vùng đổi thấp va chân núi của dãy Ando". Cho tới nay giả thiết của Krapovikat vẫn là giả thiết có cơ sở khoa học hơn cả. Hiện nay tại Nam Mỹ có 6 trung tâm gen trồng đậu phụng. Trên thế giới đã có 2 trung tâm bậc hai, sự hình thành những trung tâm này là do sự du nhập, lan truyền của cây đậu phụng vào những thế kỷ trước: + Vùng Philippines, Malaysia, Indonesia: các giống chủ yếu thuộc hai nhóm Spanish và Valencia.
Các giống này có thân đứng, hạt nhỏ, thời gian sinh trưởng ngăn, thân tăng trưởng hữu hạn, nhu cầu vôi và phân bón thấp. + Vùng Tây Phi quanh 10 vĩ độ Nam: các giống chủ yếu thuộc nhóm Virginia. Các giống này có hạt to, thời gian sinh trưởng dai, thân tăng trưởng vô hạn và thích hợp trồng trên những vùng dat giàu canxi, cân bón phân, tưới nước đây đủ. Sự du nhập: qua nhiều thập kỷ đậu phụng đã được trồng ở hầu khắp các Châu lục trên thê giới do các nhà thám hiểm, các đoàn thuyên buôn, các đoàn nô lệ đem theo.
Ở Châu Phi: tại vùng phía Tây vào thế kỷ XIV do người Bồ Đào Nha đưa tới. Cùng thời điểm này người Tây Ban Nha đưa đậu phụng từ Mexico đến Philippine, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam A, An Độ và từ Srilanca hoặc Malaysia tới Madagascar vào bờ biển 2 Đông Phi. Vì vậy người ta giả thiết đậu phụng đã từ bờ biển Pêru theo các đoàn thuyền buôn tới Manila và châu Á vào cuối thé kỷ XVI. Ở Chau Âu: đậu phụng được đưa vào từ thé ky XVI sau chuyến đi thám hiểm của Côlômbô (Christopher Columbus).2 Đặc điểm thực vật học của cây đậu phụng Theo Nguyễn Minh Hiếu và ctv (2010), đậu phụng là cây rễ cọc, trên rễ chính có nhiều rễ phụ xuất phát từ các vị trí khác nhau trên rễ chính tạo thành một mạch dày đặc và tập trung ở lớp đất mặt khoảng 30 cm.
Bộ rễ phát triển tốt thường tập trung độ sâu 5 — 35 cm, rộng 12 — 14 cm. Chính nhờ vậy mà cây đậu phụng tự đáp ứng phan nào nhu câu sử dụng đạm. Rễ cây đậu phụng có nốt san do sự cộng sinh của vi khuẩn cố định dam Rhizobium vigna. Nốt san xuất hiện khi cây có 4 — 5 lá thật, 15 — 30 ngày sau gieo.
Chất lượng nốt san phụ thuộc vào lượng leghomoglobin và số lượng riboxom. Các nốt san có nhiều hai chất trên sẽ 4 có màu hồng, trọng lượng nốt san lớn, khả năng cố định N khí quyền cao. Vi khuẩn nốt san hoạt động mạnh ở thời kỳ cây ra hoa, đâm tia mạnh và đầu kỳ làm quả, có thê cung cấp cho cây trung bình từ 72 — 124 kg N/ha/năm. Tuy nhiên, bón nhiều N, nốt san nhỏ và không phát huy được tác dụng (Đoàn Thị Thanh Nhàn va ctv, 1996).
Theo Nguyễn Minh Hiếu và ctv (2010), thân đậu phụng là cây thân thảo. Thân đậu phụng có hai đoạn: đoạn dưới lá mầm (cô rễ) và đoạn trên lá mam, đoạn đưới lá mầm dài hay ngắn tùy thuộc vào độ sâu lấp hạt. Theo Bunting hình dạng thân cây có ba loại: thân đứng, thân bò và thân trung gian. Chiều cao cây đậu phụng thay đổi từ 19 - 80 cm, chiều cao tối đa của giống đậu phụng trồng phổ biến ở Việt Nam là 65 cm.
Đậu phụng phân cành nhiêu, trong điêu kiện nhat định, cây phân cành nhiêu thì sô quả nhiêu. Lá đậu phụng thuộc lá kép lông chim chan một lần, mỗi lá có 4 lá chét, đôi khi có lá bién thái ở một số giống mà có lá chét là 3,5,6,7 lá. Trên cuống lá và hai mặt phiên lá đều có lông, màu sắc từ xanh đậm đến xanh nhạt tùy giống. Lá mọc trên thân cành tại các mắt đốt và mọc theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, số lá thường tương ứng số đôt thân, sô cành.
Hoa đậu phụng là hoa lưỡng tính. Hoa phát triển thành chum gồm 2 — 7. Hoa có cấu tạo rất điển hình của họ cánh Bướm. Các hoa ở thân chính.
Những hoa nở đàu tiên có tỉ lệ thụ phan và đậu qua cao nhất (Nguyễn Bảo Vệ va Tran Thị Kim Ba, 2005). Quả đậu phụng thuộc loại quả khô, vỏ gồm 2 mảnh vỏ khép kín. Vỏ được cấu tạo từ ba lớp tế bào: ngoại bì, trung bì, nội bì. Các đặc trưng hình thái được dùng để phân giống là gân vỏ, mỏ quả, eo quả.
Quả chín biểu hiện mặt ngoài vỏ cứng chắc, có màu vàng hơi ngả xám. Hạt đậu phụng gồm có phôi và vỏ lụa mỏng bao ngoài phôi, màu sắc đa dạng: Phớt hồng, đỏ, trắng hồng, đỏ, đỏ sam, tim sam; có vân hoặc không vân; dạng tròn, bầu dục, bầu dục dài. Số hạt trong quả thường là 2-4 quả tùy điều kiện giống. Theo thống kê của bộ nông nghiệp Hoa Kì (USDA) thành phần dinh dưỡng của 100g đậu phụng có chứa 567 calo; 7% nước; 25,8 gam protein; 16,1 gam carbonhydrate; 4,7 gam đường; 8,5 gam chất xơ; 49,2 gam chất béo.2 Giới thiệu về chế phẩm nano Chế phẩm dưỡng chất nano vi lượng có sự kết hợp giữa các thành phần dinh dưỡng và tỷ lệ giữa các nguyên tố vi lượng, chất nền và chất hữu cơ (Hà Phương Thư, 2022).
Nguyên vật liệu chế tạo gồm Hydroxyapatite, alginate, carboxyl methyl cellulose, sodium borohydride (NaBH4), và bac nitrate (AgNO3) được mua từ Merck. Sắt(II)chloride hexahydrate (FeCl3.6H20), đồng sulfate pentahydrate (CuSO4.5H2O), coban (II) sulfate (CoSO,), magnesium sulfate (MgSOa), kẽm oxide (ZnO), phân NPK thương phẩm va phân NPK + vi lượng (TE) phân (NPK15-15-15 và NPK-15-15-15 + TE, được cung cấp tại công ty phân bón Bình Điền, thành phan: tổng N: 15%, có sẵn P (PzOs): 15%; có san Kali (KzO): 15%, SiO›: 1%, Zn: 100 ppm, Cu: 100 ppm, Fe: 100 ppm, B: 200 ppm) duoc mua tai Viét Nam. Tổng hop chế phẩm gồm ba bước: dau tiên dùng hỗn hợp NPK thương mại va hydroxyapatite (ở một tỷ lệ xác định) được dùng dé chế tạo cấu trúc hỗn hợp NPK — hydroxyapatite bằng phương pháp hóa học. Sau đó, dung dịch vi lượng Ag, Fe, Cu, Co, Zn ở hạt dạng nano được tông hợp bằng phương pháp hóa học khử sử dung NaBH; làm chất khử.
Cuối cùng, dung dịch nguyên tổ vi lượng và cau trúc nano NPK được tích hợp vào các vật liệu giữ nước như alginate (Hà Phương Thư,2022). Thành phần chế phẩm bao gồm các nguyên tố tính theo phan trăm khối lượng (% w/w) như N (12,00); P (3,46); K (5,50); Mg (1,36); S (6,30); Si (2,28); Ca (10,8); Fe (0,69); Cu (0,34); Zn (0,56); Co (0,23); Ag (0,22).3 Ung dụng chế phẩm nano trong nông nghiệp Từ “nano” theo tiếng Hy Lạp là “nhỏ bé”, trong khi từ “nanotechnology” lần đầu tiên được đưa vào sử dụng vào năm 1974 bởi giáo sư người Nhật NorioTaniguchi. Theo quan điểm của Chương trình Sáng kiến Công nghệ nano Quốc gia (NNI) của Mỹ, nghiên cứu và phát triển công nghệ nano là nhằm tới việc tạo ra các vật liệu, thiết bị và hệ thống chuyên khai thác các tính năng của vật liệu ở kích thước nano (10-9 mét). NNI đưa ra định nghĩa công nghệ nano như sau: Công nghệ nano là sự hiểu biết và kiểm soát vật chất ở kích thước nano trong khoảng từ lnm đến 100 nm, mà tại đó nhiều hiệu ứng đặc biệt xảy ra cho phép tao ra các ứng dụng mới (Solanki và ctv, 2015).
Công nghệ nano (nanotechnology) là ngành công nghệ liên quan đến thiết ké, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet (nm, Inm = 10° m). Ranh giới giữa công nghệ nano và khoa học nano đôi khi không rõ ràng, tuy nhiên chúng đều có chung đối tượng là vật liệu nano. Tiền tô nano xuất hiện trong tai liệu khoa học đầu tiên vào năm 1908 khi Lohmamn sử dụng dé chỉ các vi sinh vật nhỏ bé có kích thước 200nm (Solanki 6 va ctv, 2015). Công nghệ nano có thé tao ra rất nhiều vật liệu và thiết bị mới trong y học, điện tử, sinh học, mỹ phẩm, nông nghiệp.
Trong những thập ky gần đây, các sản phẩm công nghệ nano đã được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp. Lu va ctv (2002) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nano SiO2 va nano TiO2 hỗn hợp trên hạt đậu nành và thấy rang hỗn hợp tăng reductase nitrat trong đậu nành, tăng nảy mầm và sinh trưởng của cây. Theo Raun và Johnson (1999) các nhà trồng trọt trên thé giới có thé thu hoạch thêm mỗi năm 4,7 tỷ USD nếu như tăng được hiệu quả sử dụng nito lên 20%. Sử dung phân bón hóa học ở quy mô lớn có thé làm hư hại không thé phục hồi đối với cấu trúc của đất, các chu trình khoáng chất, hệ vi sinh vật trong đất, thậm chí tác động lên chuỗi thức ăn qua hệ sinh thái và gây ra các đột biến di truyền đối với người tiêu dùng các thế hệ sau.
Công nghệ nano là một trong những công cụ quan trọng bậc nhất của khoa học nông nghiệp hiện đại, trong đó công nghệ nano trong lĩnh vực nông nghiệp thực phẩm được dự đoán trở thành một lực lượng dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu trong một tương lai gân. Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như N, P, K thường tan vào trong đất với khối lượng nhiều hơn cây yêu cầu, vì thế cần phải bón nhiều lần trong quá trình phát triển của cây (Maruyama và ctv, 2008).