phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Cơ sở khoa học xác định danh mục rủi ro và lựa chọn phƣơng pháp nghiên cứu đánh giá rủi ro Chƣơng 3: Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố rủi ro đến chi phí đầu tƣ xây dựng công trình thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam Chƣơng 4: Kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro ảnh hƣởng đến chi phí đầu tƣ xây dựng các dự án thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam 1.1 Quan điểm về thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam Trên thế giới, quan điểm thủy điện vừa và nhỏ ở các nƣớc cũng chỉ mang một ý nghĩa tƣơng đối, định nghĩa thủy điện vừa và nhỏ thay đổi đáng kể từ nƣớc này sang nƣớc khác nhƣng có sự đồng thuận đó là sử dụng công suất lắp đặt một nhà máy làm tiêu chuẩn chung để phân loại. Theo Báo cáo của Tổng công ty Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation IFC, 2010) [3] thì các dự án thủy điện nhỏ có công suất từ 0,1MW đến 10MW, thủy điện vừa có công suất từ 10MW đến 100MW và thủy điện lớn có công suất trên 100MW. Ở Việt Nam, quan niệm thủy điện vừa và nhỏ cũng thay đổi từng giai đoạn cụ thể nhƣng cũng thống nhất sử dụng công suất lắp máy làm tiêu chuẩn để phân loại. Hiện nay thủy điện nhỏ đƣợc định nghĩa là những thủy điện có công suất từ 1MW đến 30MW [4], thủy điện vừa và nhỏ là những thủy điện có quy mô công suất từ 50MW trở xuống [5].2 Vai trò của thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam Trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc sau hơn 30 năm đổi mới, thủy điện nói chung và thủy điện vừa và nhỏ nói riêng có vai trò vô cùng to lớn và là một phần quan trọng của ngành điện đảm bảo cung ứng điện cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: - Thủy điện đóng góp sản lượng điện lớn cho việc đảm bảo cung ứng điện: chiến lƣợc phát triển thủy điện đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của Việt Nam khẳng định thủy điện là một trong ba nguồn năng lƣợng chính đáp ứng nhu cầu điện Quốc gia.
Thời điểm hiện tại, thủy điện đóng góp trên 30% tổng nguồn cung cho năng lƣợng quốc gia. - Thủy điện vừa và nhỏ tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế tại nhiều địa phương: việc xây dựng các dự án thủy điện vừa và nhỏ nó không chỉ tạo thu nhập cho 7 nhà đầu tƣ mà còn góp phần bổ sung nguồn năng lƣợng hao hụt cho Nhà nƣớc, điều hòa cho nông nghiệp thủy lợi, giao thông vận tải, sinh hoạt của ngƣời dân nhất là vào mùa khô. Đồng thời nó cũng góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở những vùng khó khăn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực này. - Bảo tồn các hệ sinh thái: việc xây dựng các công trình thủy điện sẽ không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên nƣớc cũng nhƣ đặc tính của nƣớc sau khi chảy qua tuabin của nhà máy.
- Tích và xả theo nhu cầu của hệ thống điện. - Giảm bớt ô nhiễm môi trường, giảm phát thải: thủy điện thải ra rất ít khí hiệu ứng nhà kính so với các phƣơng án phát điện quy mô lớn khác, do vậy giảm sự nóng lên của trái đất. Lƣợng khí nhà kính mà thủy điện thải ra nhỏ hơn 10 lần so với các nhà máy turbine và nhỏ hơn 25 lần so với các nhà máy nhiệt điện than. - Góp phần giải quyết bài toán sử dụng nước đa mục tiêu:cung cấp nƣớc cho sinh hoạt, sản xuất, tƣới tiêu, nuôi trồng thủy sản, vận tải thủy, du lịch, chống hạn, đẩy mặn cho khu vực hạ lƣu.
- Cải thiện công bằng xã hội: thủy điện có tiềm năng rất lớn trong việc cải thiện công bằng xã hội trong suốt thời gian dự án đƣợc triển khai và thúc đẩy mạnh sự công bằng giữa các nhóm bị thiệt hại và toàn xã hội nói chung.3 Đặc điểm các dự án thủy điện vừa và nhỏ ở Việt Nam Các dự án thủy điện nói chung và các dự án thủy điện vừa và nhỏ nói riêng không những mang đặc thù chung của dự án điện mà còn có những đặc điểm riêng do việc tạo ra nguồn điện từ năng lƣợng nƣớc. Từ các đặc điểm này của dự án thủy điện dẫn đến rủi ro trong quá trình đầu tƣ xây dựng các dự án thủy điện cụ thể nhƣ sau: - Các dự án thủy điện hầu hết đƣợc xây dựng ở các khu vực miền núi nên có địa hình, địa chất phức tạp. Đa số năng lƣợng thủy điện có đƣợc từ thế năng của nƣớc đƣợc tích tại các đập nƣớc làm quay turbin nƣớc và máy phát điện. Để có đƣợc các thế năng này, các dự án thủy điện thƣờng đƣợc xây dựng ở các khu vực miền núi nơi có địa hình, địa chất, thủy văn phức tạp hơn rất nhiều so với các vùng đồng bằng để tạo sự khác biệt về 8 độ cao giữa nguồn và dòng chảy.
Địa điểm đầu tƣ xây dựng các dự án thủy điện có ảnh hƣởng trực tiếp đến điều kiện thi công, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tiến độ thực hiện, chi phí đầu tƣ và hiệu quả dự án. Từ đặc điểm này có thể dẫn đến các rủi ro về địa chất, thủy văn nơi xây dựng công trình phức tạp, nền móng cần gia cố và xử lý, các hiện tƣởng sạt lở đất đồng thời tác động đến quá trình khảo sát, thiết kế, thi công phức tạp, độ ổn định, bền vững và chất lƣợng của công trình cũng nhƣ khó khăn trong việc cung cấp nguyên vật liệu đến công trình. - Việc thu thập tài liệu khí tƣợng thủy văn trong các dự án thủy điện nhỏ phục vụ cho công tác khảo sát, đo đạc tính toán thủy văn, thiết kế gặp nhiều khó khăn đặc biệt ở nƣớc ta điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, việc quan trắc khí tƣợng thủy văn ở nƣớc ta vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, mật độ trạm đo mƣa còn thiếu và chƣa đủ theo dõi diễn biến lƣợng mƣa dẫn đến chƣa có đủ thông tin gây khó khăn trong công tác khảo sát, thiết kế và quản lý vận hành. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong quá trình khảo sát, tính toán thủy văn và thiết kế công trình.
- Sử dụng nguồn thủy năng dồi dào từ thiên nhiên: các nhà máy thủy điện sử dụng nguồn năng lƣợng của các dòng nƣớc để biến đổi thành điện năng. Đó là nguồn năng lƣợng vô tận của thiên nhiên. Nhiên liệu không phải vận chuyển, nguồn nƣớc từ thiên nhiên rất phong phú trong khi nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện (than, dầu.) đều có hạn và phân bổ cho nhiều ngành khác. Tận dụng nguồn năng lƣợng này còn tiết kiệm đƣợc chi phí khai thác và vận chuyển dẫn đến giá thành điện năng giảm mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế quốc dân.
- Diện tích lƣu vực của các dự án thủy điện vừa và nhỏ tƣơng đối lớn tùy thuộc vào quy mô và công suất lắp máy. Trong một dự án thủy điện thì hồ chứa nƣớc là một hạng mục không thể thiếu và để xây dựng đƣợc hồ chứa nƣớc đòi hỏi phải hi sinh một diện tích lớn rừng tự nhiên, vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng đối với ngƣời dân. Việc xây dựng các nhà máy thủy điện làm mật độ che phủ rừng giảm, ảnh hƣởng đến dòng chảy và đa dạng sinh học, tăng di dân tái định cƣ, tình trạng thiếu đất sản xuất và đói nghèo trở nên phổ biến. Đây cũng là một trong những tổn thất khó có thể bù đắp lại trong số những tổn thất do thủy điện gây ra, việc mất đi hàng trăm ha rừng kéo theo nhiều vấn đề về môi trƣờng và xã hội trong một thời gian dài.
9 - Vốn đầu tƣ cho các dự án thủy điện vừa và nhỏ thƣờng lớn và thời gian thu hồi vốn dài. So với các dự án đầu tƣ xây dựng nói chung thì vốn đầu tƣ cho các dự án thủy điện vừa và nhỏ thƣờng lớn hơn nhiều. Vốn đầu tƣ cho một dự án thủy điện thƣờng cũng dao động từ trăm tỷ đến nghìn tỷ đồng tùy thuộc vào quy mô và công suất, chi phí vận chuyển các nguyên vật liệu xây dựng đến vùng dự án. Khi vốn đầu tƣ lớn mà thời gian thu hồi vốn dài có thể dẫn đến rủi ro năng lực chủ đầu tƣ không đáp ứng, việc thu hút vốn đầu tƣ, vay vốn ngân hàng khó khăn làm chậm tiến độ thi công.
- Chi phí vận hành các công trình thủy điện vừa và nhỏ không tốn kém nhiều. Các dự án thủy điện không phải dùng nhiên liệu nhiều và do đó hạn chế đƣợc các tác động do thay đổi giá cả, nguyên vật liệu. Các nhà máy thủy điện không chịu ảnh hƣởng tăng giá của nhiên liệu hóa thạch nhƣ dầu mỏ, khí gas tự nhiên hay than đá và không cần nhập nhiên liệu. Để vận hành các công trình thủy điện các đơn vị cũng đã áp dụng các công nghệ tiên tiến tự động hóa để vận hành nên cũng giảm chi phí nhân công và lực lƣợng tại chỗ để vận hành.
- Các dự án thủy điện vừa và nhỏ có thời gian xây dựng không ngắn và cũng không quá dài nhƣng thời gian vận hành tƣơng đối dài. Do đặc điểm thủy điện xây dựng trên các địa hình sông, suối, địa hình, địa chất khó khăn và phức tạp nên một để hoàn thành một dự án thủy điện cũng mất thời gian tƣơng đối (dao động từ 2 – 10 năm) bên cạnh đó thời gian vận hành trung bình của một dự án thủy điện từ 30 – 50 năm. Việc thời gian xây dựng kéo dài dẫn đến các rủi ro lạm phát, lãi suất vay vốn ngân hàng, tỷ giá thay đổi. - Dự án thủy điện vừa và nhỏ có tính phức tạp về mặt kỹ thuật, tính đồng bộ cao và khối lƣợng thi công lớn.
Khác với các dự án đầu tƣ xây dựng thông thƣờng thì các dự án thủy điện xây dựng trên các sông, suối địa hình phức tạp, khó khăn nên đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, công nghệ kỹ thuật trong dự án phải đảm bảo sự đồng bộ với việc xây dựng hệ thống truyền tải và phân phối điện.