Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tăng nhanh sản lƣợng, chất lƣợng các sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm truyền thống nhƣ trâu bò, lợn, gà, ngành chăn nuôi nƣớc ta đã hòa nhập với sự phát triển của nền chăn nuôi trên thế giới, bổ sung thêm nhiều đối tƣợng chăn nuôi mới nhƣ chăn nuôi chim cút đã làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi. Sản phẩm thịt và trứng chim cút là một trong những sản phẩm đƣợc ƣa chuộng, chế biến đƣợc nhiều món ăn ngon, bổ dƣỡng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trƣờng. Cùng với việc đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành chăn nuôi phát triển, ngành chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng ngày càng phát triển, sản xuất ra nhiều chủng loại thức ăn: tổng hợp, đậm đặc, viên, premix khoáng, sinh tố. Tuy nhiên vẫn không đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời chăn nuôi.
Hiện nay, yêu cầu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu, chính vì vậy chúng ta không chỉ quan tâm đến số lƣợng mà chúng ta còn phải đặc biệt quan tâm đến chất lƣợng của sản phẩm chăn nuôi. Qua nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn khẩu phần ăn có bột lá thực vật thì khả năng sinh trƣởng và sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bổ sung bột lá thực vật. Hiện nay, một số nƣớc trên thế giới đã sử dụng bột lá thực vật để bổ sung vào khẩu phần ăn của vật nuôi nhƣ: Philippines, Ấn Độ đã sử dụng bột lá keo giậu; Brazin, Colombia sử dụng bột lá sắn.Trong chăn nuôi, sản phẩm phải thỏa mãn đƣợc yêu cầu và chất lƣợng nhƣ: thịt thơm, ngon, chắc, hàm lƣợng lòng đỏ trứng cao.và đặc biệt giảm tối đa chi phí thức ăn. Vì vậy, một trong những điều kiện cơ bản nhất có tính chất bắt buộc đối với chăn nuôi để 2 có sản phẩm sạch, chất lƣợng cao là phải nuôi bằng thức ăn có nguồn gốc thực vật, đảm bảo không tồn dƣ các loại hóa chất độc hại, không đƣợc dùng các chất kích thích tăng trọng và các loại kháng sinh tồn dƣ trong thịt và trứng.
Vì vậy, tôi nghĩ đến cây sắn. Ở Việt Nam cây sắn phân bố từ Bắc vào Nam. Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [4] cho biết protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06-29,80% trong VCK. Qua nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, các nhà khoa học đã kết luận rằng khi bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn thì khả năng sinh trƣởng và sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột lá thực vật trên.
Từ những vấn đề đƣợc nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng của chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên". Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định ảnh hƣởng của bột lá sắn trong khẩu phần ăn đến khả năng sinh trƣởng của chim cút. - Biết đƣợc bột lá sắn có ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng, năng suất và chất lƣợng chim cút thịt, từ đó có cơ sở khoa học để khuyến cáo trong sản xuất. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho khoa học thức ăn và dinh dƣỡng chim cút những thông tin cơ bản về việc sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi chim cút thịt. Ý nghĩa thực tiễn - Bổ sung bột lá sắn vào công thức thức ăn hỗn hợp nâng cao khả năng sinh trƣởng của chim cút từ đó nâng cao hiê ̣u quả chăn nuôi chim cút thit.̣ 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Vài nét về chim cút 2.
Nguồn gốc, vị trí phân loại chim cút Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng sống thích hợp ở những vùng có khí hậu ấm áp và hơi nóng. Lần đầu tiên giống này đƣợc thuần hóa ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ XI (conturnicx Japonica). Chim cút thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ gà (Galliformes) gồm những loài chim nhƣ gà, gà lôi, công, trĩ, chim cút…chúng có cánh ngắn, tròn nên bay kém, chân to, khỏe, móng cùn. * Phân loại khoa học - Giới (regnum) : Động vật - Animalia - Ngành (phylum) : Có xƣơng sống - Chordata - Lớp (class) : Chim - Aves - Bộ (ordo) : Gà - Galliformes - Họ (familia) : Trĩ - Phasianidae 2.
Đặc điểm sinh học của chim cút Nhật Bản * Đặc điểm về ngoại hình Chim cút Nhật Bản nuôi ở nƣớc ta có lông màu hồng gạch, con cái lông ngực xám hồng và có những chấm đen. Chân xám hồng có chấm đen, mỏ xám đá. Mắt đen, đôi khi có con có màu sắc lạ nhƣ hung, đen, trắng. Chim trƣởng thành lông ống phủ kín thân, lông lƣng, đầu, cổ, đuôi có màu xám lẫn đen.
* Phân biệt trống mái Chim đực lông mặt, cổ dƣới diều và ngực có màu vàng nâu lẫn ít trắng. 4 Chim mái màu lông mặt cổ dƣới xám lẫn ít đen, lông bụng trắng xám, mỏ đen xám, chân trắng xám và hơi hồng, mắt đen. Chim cút đực trƣởng thành hậu môn có một u lồi, chim mái không có. Chim cút đực biết gáy còn chim mái không biết gáy.
* Khả năng sinh sản Có những giống cút chuyên sản xuất trứng, có giống chuyên sản xuất thịt. Nhìn chung ngƣời nuôi có khuynh hƣớng chọn giống theo năng suất trứng cao. Loại cút này có khối lƣợng cơ thể tối đa khoảng 160-190g ở 5-6 tháng tuổi. Thƣờng ngƣời ta chọn những con trống có ngực nở nang, khoẻ mạnh, đầu khoẻ và chắc.
Con cái có đầu thanh tú, cổ vừa phải, mắt linh hoạt, lông mƣợt và sáng. Chim cút mái đẻ 300-360 trứng mỗi năm. Có những con đẻ trên 400 trứng (có ngày đẻ 2 quả). Tỷ lệ đẻ của đàn mái cao, bình quân tới 85-90%.
Trứng chim cút nặng 12-16g. Chim cút mái đẻ trứng đầu tiên khoảng 40 ngày tuổi, khi khối lƣợng cơ thể khoảng 110g. Đến 6 tháng tuổi, chim cút mái nặng 150-170g. Chim cút mái đẻ cao trong năm đầu tiên, có thể khai thác trứng liên tục 14 tháng đẻ, sau đó chim cút đẻ giảm.
Vào năm thứ hai, chim cút mái chỉ đẻ bằng 50% so với năm đẻ đầu tiên. Khi nhân giống chim cút, nên chọn trống mái từ sớm, thƣờng sau 20 ngày đã có thể phân biệt đƣợc trống mái. Con trống có lông mƣợt màu hồng gạch, con mái lông ngực có màu xám hồng và có những chấm đen. Ta nên ghép trống trẻ với mái trẻ, không nên ghép trống già với mái trẻ.
Chim cút trống trẻ cho tỷ lệ phôi cao hơn trống già. Khi ghép trống mái, cần quan sát kỹ, nếu thấy một số con mái chống cự, không cho con trống đạp mái thì nên thay con trống sang ô chuồng khác. Để quan sát có kết quả, cần tiến hành vào buổi sáng, khi chƣa cho ăn. Khi đã ăn no thì đàn chim cút yên tĩnh và khó quan sát hơn.
Tỷ lệ ghép trống mái tốt nhất là 5 mái ghép với 2-3 con trống. Chim cút sinh sản cần đến 16 giờ chiếu sáng một ngày, vì vậy cần thắp đèn tới 10 giờ đêm. 5 Chim cút Nhật Bản nuôi ở nƣớc ta đẻ trứng màu ghi, trên vỏ có những điểm đốm nâu đen. Nếu nuôi hợp lý chim cút có thể đẻ mỗi ngày một trứng, có những con đẻ cao tới 380-420 trứng.
Tuy nhiên do những điều kiện khách quan nên việc tạo trứng có khi kéo dài trên 24 giờ và lúc đó sản lƣợng trứng chỉ đạt 300 quả/năm. Trứng chim cút giống chỉ nên bảo quản trong 2-3 ngày mùa hè, về mùa đông có thể đến 5 ngày. Trứng để lâu sẽ có tỉ lệ nở giảm.Thời gian ấp nở của trứng chim cút là 16 ngày. * Khả năng cho thịt Chim cút con mới nở ra tƣơng đối cứng cáp, chúng có nhu cầu sƣởi ấm cao hơn gà, vịt.
Nuôi chim cút con tới 25 ngày tuổi thì thay khẩu phần bằng thức ăn nuôi cút thịt. Chim cút thịt nuôi đến 40-45 ngày tuổi có thể bán. * Tập tính của chim cút Chim cút có thị giác rất phát triển nên có khả năng nhận biết và chọn lọc thức ăn cao, nhƣng vị giác và khứu giác lại kém phát triển nên khó nhận biết mùi vị thức ăn. Vì vậy, chim cút rất dễ bị ngộ độc thức ăn do ăn phải thức ăn ôi, mốc.
Chim cút mặc dù đã đƣợc thuần hóa nuôi dƣỡng từ lâu nhƣng còn mang nhiều đặc tính hoang dã. Đáng chú ý là vẫn sợ tiếng động, tiếng ồn, thƣờng bay lên va vào thành lồng gây bị thƣơng, chết. Giá trị của chim cút * Giá trị về kinh tế Hiện nay chim cút đang đƣợc nuôi rất phổ biến ở nƣớc ta, nuôi chim cút có nhiều ƣu điểm sau: Vốn đầu tƣ ít, không cần nhiều diện tích để xây chuồng trại. Thời gian để có sản phẩm bán ra thị trƣờng nhanh, nuôi cút thịt sau 30 ngày, cút đẻ 42 ngày.
Chim cút giống trứng đƣợc nuôi rộng rãi là giống chim cút Nhật Bản, tên khoa học là "Corturnix Japonica". Một số hộ có kinh nghiệm nuôi chim cút cho biết, không chỉ mang lại lợi nhuận từ việc bán trứng và thịt cút, phân cút cũng đƣợc các hộ tận dụng để 6 bán cho các hộ trồng cây công nghiệp và nuôi cá. Ƣu điểm của nuôi chim cút là nhanh thu hồi vốn và đầu tƣ ban đầu không cao. * Giá trị về y học Chim cút dùng làm thuốc chữa bệnh, dùng trong y học cổ truyền.
Y dƣợc học cổ truyền dùng thịt chim và trứng chim làm thuốc. Thịt chim chứa nhiều protit, lipit và muối khoáng. Trứng chim có nhiều chất lecithin hơn các trứng khác. Thịt chim cút có tác dụng bổ hƣ ích khí, thanh lợi thấp nhiệt.
Dùng cho các chứng lao, suy nhƣợc, tiêu chảy, kiết lỵ, suy dinh dƣỡng và phong thấp. Trứng chim cút: Bổ ngũ tạng, bổ trung ích khí. Dùng cho các trƣờng hợp sau khi bị bệnh lâu ngày làm khí huyết hƣ nhƣợc, tiêu hóa kém, sản phụ sau đẻ bị suy nhƣợc. Do tác dụng bổ dƣỡng tăng lực rõ rệt nên ở Trung Quốc, có nơi gọi chim cút là nhân sâm động vật.